vanban.org

Bản án 21/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 28/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ Luật Hình sự.

Buộc bị cáo Trần Bá T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. * Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ Luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày T án (28/02/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Bá T tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ Luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC BÌNH
TỈNH BÌNH THUẬN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HS-ST
Ngày 28-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Bích Lệ, bà Nguyễn Thị Yến Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chiêm Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/HSST – QĐ ngày 18 tháng 01 năm 2023, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 03/2023/TB-TA ngày 09 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Bá T (tên gọi khác: Đ), sinh năm 1977 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố X 2, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Bá R (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nh; Vợ: Phan Thị Mỹ Tr; Con: Có 03 người con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Trần Bá D, sinh năm 1974 (có mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Khu phố X 2, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng: + Anh Trần Văn D1, sinh năm 1992 (vắng mặt tại phiên tòa). Địa chỉ: Khu phố X 1, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận. + Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992 (vắng mặt tại phiên tòa). Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/6/2022, Trần Bá T (tức Đ), sinh năm 1977, ở khu phố X 2, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận đi đến ngôi nhà đang xây dựng tại khu vực đồng Ma Ó thuộc khu phố X 2, thị trấn C, huyện B của ông Trần Bá D, sinh năm 1974, ở khu phố X 2, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận (là anh ruột của T). Do giữa T và ông D đang tranh chấp mảnh đất đang xây nhà nêu trên nên T yêu cầu anh Trần Văn D1, sinh năm 1992, ở khu phố X 1, thị trấn C, huyện B (là chủ thầu xây dựng công trình) dừng việc thi công nhưng anh D1 nói ông D là người thuê D1 xây dựng nên không làm theo yêu cầu của T mà cho công nhân tiếp tục làm việc. T nhặt 01 cây sắt hộp, kích thước (70 x 10 x 5)cm tại công trình đi đến đập phá kiềng nhà đang xây của ông D. Anh D1 thấy vậy thì gọi điện thoại báo cho ông D biết. Một lúc sau thì ông D đến. T và ông D cãi nhau, T yêu cầu ông D kêu thợ ngừng thi công nhưng ông D không đồng ý. T tiếp tục sử dụng cây sắt hộp đập phá kiềng nhà. Ông D thấy vậy thì lấy điện thoại ra quay video ghi lại sự việc. T nói “muốn quay tao đập cho mày quay, tới gần quay cho rõ”. Ông D cầm điện thoại tới gần T để quay video thì bất ngờ T nhặt 01 cục gạch ném vào người ông D (không gây thương tích gì). Thấy vậy, thì ông D bỏ chạy lên bậc thềm bên hông nhà thì bị T đuổi theo, khi T cách ông D khoảng 01m thì T dùng 02 tay cầm cây sắt hộp đánh vào người ông D theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải qua trái. Ông D quay lại thấy T giơ cây sắt lên đánh nên đã giơ tay trái lên đỡ thì trúng vào cẳng tay trái gây ra thương tích, đồng thời cây sắt hộp cũng văng ra khỏi tay T. Ông D bị thương ôm tay trái đi vào trong nhà. T chạy ra nhặt 01 cây sắt khác nhưng thấy ông D không làm gì nên T bỏ cây sắt. Ông D lấy xe mô tô đi đến bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Bình Thuận để điều trị vết thương còn T cũng bỏ đi về.

Ngày 16/6/2022, ông Trần Bá D làm đơn đề nghị khởi tố vụ án hình sự và yêu cầu giám định thương tích.

Ngày 18/6/2022, ông D nộp cho Công an 01 viên gạch không nung, màu trắng bạc, kích thước (08 x 04 x 18)cm. Ngày 25/6/2022, ông Trần Bá T giao nộp cho Công an thị trấn Chợ Lầu, huyện Bắc Bình 01 cây sắt hộp, kích thước (5 x 10)cm, màu trắng bạc dài 70cm, rỗng ruột là hung khí T sử dụng đánh ông D vào ngày 07/6/2022.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 438/2022/TgT ngày 09/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận kết luận về thương tích của Trần Bá D.

Chấn thương 1/3 cẳng tay trái, gãy kín 1/3 giữ xương trụ trái đã được điều trị bảo tồn, hiện cẳng tay trái cử động gấp, xoay hạn chế do đau. Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 10%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho ông Trần Bá D hiện tại 10%. Chấn thương do vật tày gây ra. Chấn thương có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương, với lực tác động mạnh.

Về tang, vật chứng của vụ án: Đối với 01 viên gạch không nung, màu trắng bạc, kích thước (08 x 04 x 18)cm và 01 cây sắt hộp, kích thước (5 x 10)cm, màu trắng bạc dài 70cm, rỗng ruột đã chuyển vào kho vật chứng của chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình.

Về phần dân sự: Ông Trần Bá D không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 122/CT-VKS.HBB ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố bị cáo Trần Bá T về tội “cố ý gây thương tích” theo điểm a, khoản 1 Điều 134 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ Luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Bá T về tội “Cố ý gây thương tích” với mức án từ 6 (sáu) tháng tù đến 9 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng.

Về vật chứng: Đối với 01 viên gạch không nung, màu trắng bạc, kích thước (08 x 04 x 18)cm và 01 cây sắt hộp, kích thước (5 x 10)cm, màu trắng bạc dài 70cm, rỗng ruột đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Về phần trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu nên đề nghị không xem xét giải quyết. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nên không tham gia tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Về sự vắng mặt của người làm chứng là Trần Văn D1, Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa không ý kiến về việc vắng mặt của anh D1, ông T. Xét thấy quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Bình đã tiến hành lấy lời khai, làm rõ các tính tiết trong vụ án nên việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 293 Bộ Luật Tố tụng Hình sự quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng Trần Văn D1, Nguyễn Văn T. [2] Căn cứ xác định tội danh và buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 13 giờ 51 phút ngày 07/6/2022, tại khu phố X 2, thị trấn C, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Trần Bá T đã dùng 01 cây sắt hộp, kích thước (05 x 10)cm, màu trắng bạc, dài 70cm, rộng ruột là hung khí nguy hiểm đánh trúng vào tay trái của Trần Bá D gây ra thương tích tổn thương cơ thể đối với Trần Bá D là 10% (mười phần trăm). Hành vi dùng thanh sắt là hung khí nguy hiểm gây thương tích đối với ông Trần Bá D với tỉ lệ tổn thương cơ thể với thương tích là 10% nên bị cáo đã phạm tội: “Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ Luật Hình sự nên Bản Cáo trạng số 122/CT-VKS.HBB ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố là đúng người, phù hợp quy định của pháp luật.

Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Bị cáo Trần Bá T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo ý thức được hành vi gây thương tích người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì mâu thuẫn trong gia đình mà bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho ông D. Đáng lẽ, khi xảy ra mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống bị cáo nên hành xử theo một cách khác phù hợp để giải quyết nhưng bị cáo đã chọn việc dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn dẫn đến việc gây ra thương tích cơ thể đối với bị hại. Tính mạng, sức khỏe của con người là quan trọng, có sức khỏe con người mới tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần phục vụ cho cuộc sống và phát triển xã hội nên pháp luật xem đây là quyền nhân thân bất khả xâm phạm, mọi hành vi xâm phạm đều bị xử lý. Do đó cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo sẽ được hưởng theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ Luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, có sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. [6] Về việc xử lý vật chứng: Đối với 01 viên gạch không nung, màu trắng bạc, kích thước (08 x 04 x 18)cm và 01 cây sắt hộp, kích thước (5 x 10)cm, màu trắng bạc, dài 70cm, rỗng ruột đây là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. [7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [8] Về án phí: Bị cáo Trần Bá T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. [9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ Luật Hình sự. * T bố: Bị cáo Trần Bá T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Bị cáo Trần Bá T 9 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, kể từ ngày T án sơ thẩm 28/02/2023. Giao bị cáo Trần Bá T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Chợ lầu, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, trường hợp Trần Bá T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu Trần Bá T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc Trần Bá T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. * Biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 viên gạch không nung, màu trắng bạc, kích thước (08 x 04 x 18)cm và 01 cây sắt hộp, kích thước (5 x 10)cm, màu trắng bạc, dài 70cm, rỗng ruột. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 12 năm 2022) * Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Bá T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ Luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày T án (28/02/2023).

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).

Cỡ chữ