- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích“.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HS-ST Ngày 24 tháng 02 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trọng Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hoan, ông Nguyễn Xuân Thuật.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Liệu– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Hưng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 02 năm 2023. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 và thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 01/2023/TB-TA, ngày 22/02/2023 đối với bị cáo:
Bùi Văn T, sinh năm 1983. Tại huyện L S, tỉnh H B; Nơi cư trú: Xóm B K, xã Q T, huyện L S, tỉnh H B; Hiện đang chấp hành án tại trại giam S H – Bộ công an; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn I và bà Quách Thị X (Đều đã chết); Vợ: Bùi Thị T (Đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền sự: Không.Tiền án: 01 tiền án, tại bản án số 36 ngày 20/11/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt Bùi Văn T 17 năm tù về tội “Giết người”. Hiện T đang chấp hành án tại trại giam Suối Hai – Bộ Công an.Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt hành chính số 40 ngày 02/96/2017, Công an huyện L S – H B xử phạt Bùi Văn T 750.000đ về hành vi đánh nhau. Tuấn đã chấp hành xong. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Bùi Hà T, sinh năm 1983.
Hiện đang công tác tại Trại giam S H - Xã C L, huyện B V, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 19/10/2022, các phạm nhân của đội 8, Phân trại số 1-Trại giam S H đang lao động tại xưởng dạy nghề theo kế hoạch dưới sự quản lý của anh Nguyễn Phi T là cán bộ quản giáo đội phạm nhân số 8, phân trại 1. Quá trình lao động, anh T sắp xếp, điều chỉnh lại vị trí lao động của các phạm nhân thì phạm nhân Bùi Văn T tỏ thái độ không chấp hành. Lúc này, phạm nhân Nguyễn Văn T đang lao động cạnh vị trí của T có nhắc nhở, bảo T chấp hành theo yêu cầu của anh T. Giữa T và Tú xảy ra cãi chửi nhau. Sau đó, anh T đã yêu cầu T và Tú đến để giáo dục, nhắc nhở rồi cho về vị trí để tiếp tục lao động. Tuy nhiên, khi quay lại vị trí lao động, T nói cho các phạm nhân khác nghe “Chúng mày đừng có ép tao, ép tao quá đáng quá tao xin chuyển đội”. Ngay lúc đó, phạm nhân T từ phía sau dùng chân đạp 01 phát trúng vào lưng của T nhưng không gây nên thương tích gì, phạm nhân T và Tú định lao vào đánh nhau thì được anh T cùng các phạm nhân khác can ngăn. Sau đó, anh T đã dẫn T và T đến Phòng Giáo dục phạm nhân ở cạnh cổng phân trại 1 để tiến hành giáo dục, nhắc nhở, lập biên bản về việc T và T vi phạm nội quy cơ sở giam giữ. Anh T làm việc với Tú trong 1 phòng, anh Nguyễn Như L là tổ trưởng tổ trinh sát phân trại 1 đã tiến hành giáo dục, nhắc nhở đối với T. Sau khi giáo dục, nhắc nhở xong, anh L đã giao lại phạm nhân T cho anh Bùi Hà T là cán bộ trực trại trông coi quản lý để đi báo cáo sự việc với cấp trên. Sau khi anh L đi ra khỏi phòng. Lúc này, T bị giáo dục nhưng có suy nghĩ tiêu cực, bức xúc. T đã dùng tay trái đang bị khóa bằng khóa số 8 vào ghế băng giật mạnh một cái làm một đầu T ngang của ghế bị bung (ghế chỉ còn một T ngang trên cùng), T dùng tay phải bẻ gãy T gỗ ngang tựa lưng của chiếc ghế băng làm hung khí để đánh anh L rồi tháo khóa số 8 đang bị khóa ở T gỗ dọc tựa lưng của ghế. Nghe thấy tiếng kêu “cạch cạch”, anh T mở cửa đi vào kiểm tra cùng lúc này T vừa bẻ xong T gỗ ngang tựa lưng của ghế, anh T nhìn thấy phạm nhân T đang đứng đối diện cách khoảng hơn 1m, tay phải cầm một T gỗ dài khoảng hơn 1m. Thấy có người đi vào, T tưởng lầm là anh L (bút lục 138-139, 140-141) nên dơ tay phải đang cầm T gỗ lên cao rồi vụt từ trên xuống thẳng về phía anh T. A T bị bất ngờ nên dơ tay trái lên đỡ đồng thời lùi về sau ra phía cửa để tránh thì bị T gỗ đập trúng vào mặt trong cẳng tay trái. Phạm nhân T tiếp tục vụt cái thứ hai thì trúng vào cạnh vị trí bị vụt trúng ban đầu. Khi này anh T lùi ra đến ngoài cửa phòng, phạm nhân T tiếp tục lao tới vụt cái thứ 3 thì anh T né được nên T không vụt trúng. Sau khi lùi ra khỏi phòng giáo dục phạm nhân T vẫn cầm T gỗ bằng tay phải tiếp tục lao vào vụt anh T ở tư thế đối diện. Lúc này, anh T dùng tay phải dơ lên để đỡ T gỗ thì bị vụt trúng vào cổ tay phải đồng thởi nhảy lên đạp về phía phạm nhân T khiến T bị đạp ngã ra sân và lao vào khống chế. Khi này có anh Lê T B là cán bộ quản giáo đang cho phạm nhân Trần Hoài N và phạm nhân Trần Văn T đi nhập bóng tại cổng phân trại số 1 về thì phát hiện thấy sự việc phạm nhân T đang dùng T gỗ vụt anh Bùi Hà T, anh Nguyễn Phi T đang từ trong phòng làm việc của cán bộ quản giáo đi ra và anh Nguyễn Văn M là cán bộ trực trại phát hiện nên đã vào can ngăn và kịp thời khống chế được T rồi đưa vào phòng giáo dục.
Hậu quả: Anh T bị gãy kín đầu dưới xương trụ phải của tay phải, bầm tím phần mềm khủy tay trái, xước da tại đuôi mắt phải và lòng bàn tay phải.Tại kết luận giám định số: 1584 ngày 09/11/2022 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết luận: Các vết sây sát da nông cẳng tay trái: 1,5%.; Vết mổ, vết dẫn lưu cẳng tay phải: 03%; Gãy đầu dưới xương trụ phải đã kết hợp xương: 06%; Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích do vật tày, tày có cạnh gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 10% (mười phần trăm). Tính theo phương pháp cộng lùi.
Tại CQĐT, Bùi Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân nêu trên.
Về dân sự: Anh Bùi Hà T không yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) T gỗ dài 1m, rộng 3cm, cao 3,5cm.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng số 07/CT-VKS, ngày 12/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Vìđã truy tố, tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội cố ý gây thương tích.
- Về hình phạt: Áp dụng các điểm a, g, k khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 24 đến 30 tháng tù. Áp dụng Điều 55, 56 Bộ luật hình sự buộc bị cáo T phải chịu hình phạt chung của hai bản án.
- Về trách nhiệm dân sự: Do anh T không có yêu cầu nên không xét.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) T gỗ dài 1m, rộng 3cm, cao 3,5cm.
- Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ba Vì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về nội dung vụ án: Nguyễn Văn T là phạm nhân, đang phải chấp hành bản án 17 năm tù về tội giết người, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong quá trình lao động tại trại giam mà giữa phạm nhân Bùi Văn T, Nguyễn Văn T đã xẩy ra cãi, chửa nhau, mặc dù đã được cán bộ trại giam nhắc nhở, giáo dục nhưng Bùi Văn T đã có suy nghĩ tiêu cực, T đã bẻ T gỗ ngang tựa lưng của ghế ngồi làm công cụ gây thương tích 10% cho anh Bùi Hà T là cán bộ trực trại. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, lời khai của bị hại, kết luận giám địnhvà các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Bùi Văn T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại các điểm a, g, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự tại nơi giam giữ, nơi chấp hành án. Vì vậy cần phải có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tại, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết năng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo tái phạm nên phải chịu tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáothành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo đang chấp hành bản án số 36/2019/HSST, ngày 20/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh H B với mức án 17 năm tù về tội giết người, nay lại tiếp tục phạm tội cố ý gây thương tích, áp dụng Điều 55, 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt với bản án số 36/2019/HSST, ngày 20/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh H B.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Hà T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng của vụ án: 01 (một) T gỗ dài 1m, rộng 3cm, cao 3,5cmlà công cụ phạm tội, không còn giá trị nên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩmtheo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điểm a, g, k khoản 1 Điều 134, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 38, 47, 55, 56 Bộ luật hình sự; Điều 106, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích“.
2. Về hình phạt: Xử phạt Bùi Văn T 01 (một) năm, 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt với bản án số 36/2019/HSST, ngày 20/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh H B 17 năm tù, buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu chung hình phạt của hai bản án là 18 (Mười tám) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2019.
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) T gỗ dài 1m, rộng 3cm, cao 3,5cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/02/2023 giữa Công an huyện Ba Vì chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP Hà Nội
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện
- Người tham gia tố tụng
- THA dân sự
- Lưu hồ sơ
Hoàng Trọng Đức
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Trọng Đức
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội - VKSND huyện - Người tham gia tố tụng - THA dân sự - Lưu hồ sơ CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Trọng Đức THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Trọng Đức |