vanban.org

Bản án 21/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Chính N phạm tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Xử phạt bị cáo Đặng Chính N 25.000.000 đ (Hai mươi lăm triệu đồng). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đặng Chính N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ - phạm tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiể…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Chính N phạm tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 264 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HS-PT
Ngày 20 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Văn Thanh.

Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Mai Lan, ông Hoàng Văn Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Quỳnh Nga, ông Hoàng Mạnh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 31/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Đặng Chính N, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2023/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Sơn La.

- Bị cáo có kháng cáo:

Đặng Chính N, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1996 tại huyện P, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản T, xã B, huyện P, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H và bà Đặng Thị L (đều đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị (Toà án không triệu tập): Đặng Văn L, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1993 tại huyện P, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản T, xã B, huyện P, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đặng Văn K (đã chết) và bà Đặng Thị N; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2022 đến ngày 18/01/2023, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh.

- Các bị hại:

+ Cháu Mùi Thị Lệ Q, sinh ngày 26/01/2010 (đã chết). Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Anh Mùi Văn N, sinh năm 1987 (bố đẻ của bị hại); địa chỉ: Bản Tiên Phong, xã B, huyện P, tỉnh Sơn La; chị Đinh Thị H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Cháu Mùi Thị Tường V, sinh năm 2010. Người đại diện hợp pháp: Anh Mùi Văn C, sinh năm 1991, chị Hà Thị Th, sinh năm 1988 (bố, mẹ đẻ của bị hại); đều trú tại địa chỉ: Bản Bó Mý, xã B, huyện P, tỉnh Sơn La, có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Cháu Đinh Thị C, sinh năm 2010. Người đại diện hợp pháp: Anh Đinh Văn H, sinh năm 1990, chị Đinh Thị H, sinh năm 1992 (bố, mẹ đẻ của bị hại); đều trú tại địa chỉ: Bản Đ, xã T, huyện P, tỉnh Sơn La, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Đặng Hồng M, sinh năm 1993; địa chỉ: Bản T, xã B, huyện P, tỉnh Sơn La, có mặt.

+ Anh Mùi Văn C, sinh năm 1991; địa chỉ: Bản B, xã B, huyện P, tỉnh Sơn La, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 05/12/2022, anh Đặng Văn L đến gặp Đặng Chính N để thuê N chở vật liệu xây dựng cho anh Lệnh. N đã thuê và giao chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu CHIEN THANG, có BKS: 12H-9635 cho L điều khiển để chở vật liệu xây dựng cho anh Lệnh mặc dù biết Đặng Văn L bị cụt bàn tay phải và không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định. Khoảng 07 giờ ngày 06/12/2022, Đặng Văn L điều khiển xe ô tô BKS: 12H-9635 của N đi từ nhà ở bản T, xã B, huyện P, tỉnh Sơn La vào xã Gia Phù, huyện P, tỉnh Sơn La để chở vật liệu cho anh Lệnh. Đến 10 giờ cùng ngày, L cho bốc 02 tấn xi măng và 18 hộp gạch lát nền xong thì điều khiển xe ô tô cùng Lệnh đi về nhà. Khi L điều khiển xe ô tô đi đến đoạn đường Km 19+520, QL43 thuộc địa phận bản Tân Đà, xã Tường Phong, huyện P, tỉnh Sơn La là đoạn đường nhựa, vòng bên trái. L gặp 01 xe máy điện, có BKS: 26MĐ1-093.76 do cháu Mùi Thị Lệ Q điều khiển chở phía sau là cháu Mùi Thị Tường V và cháu Đinh Thị C đi ngược chiều đến với vận tốc nhanh. Đặng Văn L không chú ý quan sát phía trước, đã điều khiển xe ô tô đi lấn phần đường của xe đi ngược chiều dẫn đến xe ô tô do L điều khiển đâm vào chiếc xe máy điện do cháu Q điều khiển. Hậu quả làm cháu Q chết tại chỗ, còn cháu V và cháu C bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện P.

Kết quả khám nghiệm hiện trường hồi 13 giờ 30 ngày 06/12/2022: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường Km19 + 520 QL43, thuộc bản Tân Đà, xã Tường Phong, huyện P, tỉnh Sơn La. Đoạn đường vòng sang trái theo hướng từ xã Tường Tiến đi xã Tân Phong, huyện P, tỉnh Sơn La. Nơi xảy ra vụ tai nạn có mặt đường nhựa bằng phẳng, có độ dốc khoảng 02% theo hướng xã Tường Tiến – xã Tân Phong. Tại hiện trường để lại 01 xe ô tô tải, 01 chiếc xe máy điện, đều đã bị hư hỏng và 20 mảnh vỡ bằng nhựa màu đen, màu trắng, màu xám có hình dạng khác nhau.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô nhãn hiệu CHIEN THANG, có BKS: 12H-9635 hồi 14 giờ 25 phút ngày 06/12/2022: Cụm đèn chiếu sáng bên phải và cụm đèn tín hiệu xi nhan bên phải bị bung bật, rơi ra, rời khỏi vị trí lắp; nhựa ốp phía trước đầu xe, đập vỡ rơi rời ra một phần, phần còn lại có kích thước dài 42 cm; tại mặt phía ngoài lá thanh ngang nhựa có dính vết chất lỏng màu nâu (nghi là vết máu) có kích thước (01 x 0,5)cm, tâm đầu vết cách mặt đất 1,24m và cách điểm mút ngoài cùng của ca lăng là 39cm; trên bề mặt sắt xi bên phải phần phía trước có một núm kim loại màu cam được dùng để bắt giữ phần nhựa trên xe máy điện; phần kim loại phía trước đầu xe (ba đờ sốc) có vết va đập, làm móp méo, biến dạng phần kim loại, tạo thành hình chữ V, có nhiều vết cà xước, lớp kim loại trên bề mặt có vết đổ dồn theo chiều từ trước về sau; hai bề mặt của lốp sau bên phải có vết cà xước, mài mòn lốp, vết có kích thước 73cm, tâm vết cách tâm đỉnh chữ R của dòng chữ ký hiệu DRC là 38cm, chiều hướng của vết đổ dồn theo nhiều hướng khác nhau.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe máy điện nhãn hiệu X – men, BKS: 26MĐ1-093.76 hồi 15 giờ 00 phút, ngày 07/12/2022: Toàn bộ phần nhựa ốp phía trước đầu xe, cụm đèn chiếu sáng gần xa, cụm đèn tín hiệu xi nhan trước bên trái bị dập vỡ, một số bộ phận dính lại với thân xe bởi các sợi dây điện. Chắn bùn trước của xe dập vỡ rời khỏi vị trí bắt. Toàn bộ cụm công tắc còi, các xi nhan, đèn chiếu sáng gần, xa bị bung, bật rời khỏi vị trí bắt chỉ còn dính lại với thân xe bởi sợi dây điện. Khung xe máy điện điểm bắt giữ cổ phốt với khung xe bị cong gập, đổ dồn theo chiều từ trước về sau. Mặt phía dưới của miếng kim loại bắt giữ chân chống cạnh với khung xe có vết cà xước, kích thước 4cm x 2,5cm chiều từ trước về sau, tâm vết cách điểm mút dưới cùng của chân chống cạnh là 23cm, trên bề mặt của vết có nhiều vết xước nhỏ và dính nhiều lớp bột đá màu trắng theo chiều từ sau về trước. Tại cạnh phía ngoài bên trái của bàn để chân chống cạnh (điểm tiếp xúc giữa chân chống cạnh với mặt đất) phát hiện vết cà, kích thước 4cm x 0,4cm, trên bề mặt của vết có nhiều vết cà xước và dính nhiều lớp bột đá màu trắng, lớp kim loại và bột đá màu trắng đổ dồn theo chiều từ sau về trước. Tại mặt phía ngoài bên trái của phần kim loại lắp thêm phía ngoài chân chống giữa bên trái có nhiều vết cà xước không rõ hình, kích thước 01cm x 0,8cm, trên bề mặt của vết có nhiều vết xước nhỏ và dính nhiều bột đá màu trắng, đổ dồn theo chiều từ trước về sau. Tay nắm tay lái được bắt chắc chắn với thân xe, dùng tay chuyển động về hai phía nhẹ nhàng; hệ thống đèn chiếu sáng gần, xa, đèn tín hiệu xi nhan hai bên, đèn báo hãm, đèn soi biển số được lắp đầy đủ, do tai nạn nên không kiểm tra được hiệu lực. Hệ thống gương xe: Xe không được lắp gương chiếu hậu hai bên. Còi: Xe được lắp đúng loại còi và vị trí, do tai nạn không kiểm tra được hiệu lực. Phanh tay: Cụm tay phanh, đĩa phanh, các thiết bị khác của phanh được lắp đầy đủ, do tai nạn không kiểm tra được hiệu lực. Lốp trước và lốp sau: Được lắp đúng kích cỡ và chủng loại, độ dày tà lông lốp đảm bảo, áp suất hơi đủ.

Kết luận giám định ngày 28/12/2022 của Giám định viên tư pháp thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh Sơn La, giám định tình trạng an toàn kỹ thuật phương tiện của xe ô tô tải ben BKS:12H-9635, xác định: Xe đã hết hạn kiểm định; hệ thống phanh, hệ thống lái hoạt động bình thường; hệ thống truyền lực, hệ thống treo đúng hồ sơ kỹ thuật của phương tiện.

Kết luận định giá tài sản số 36/KLĐGTS-HĐĐGTS ngày 30/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, tỉnh Sơn La kết luận: Tổng giá trị phần bị hư hỏng của xe ô tô ben, nhãn hiệu CHIEN THANG, BKS: 12H-9635 là 2.550.000 đồng (Hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng giá trị phần bị hư hỏng của xe máy điện BKS: 26MĐ1-093.76 là 3.595.000 đồng (Ba triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 152/TT ngày 12/12/2022 đối với bị hại Mùi Thị Lệ Q, của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định là đa vết thương xây xước trên thân thể, dập vỡ phức tạp xương hộp sọ thành nhiều mảnh, qua vết vỡ có tổ chức não chảy ra ngoài, dập vỡ xương hàm mặt, gẫy xương sườn V, VI, VII bên phải, kết quả nồng độ cồn: 70mg/dl. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não, dập vỡ phức tạp xương hộp sọ là nguyên nhân gây tử vong, bệnh nhân có nồng độ cồn trong máu.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 404/TgT ngày 30/12/2022 đối với bị hại Đinh Thị C, của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của C do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 03% (Ba phần trăm).

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 409/TgT ngày 30/12/2022 đối với bị hại Mùi Thị Tường V, của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của V do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 62% (Sáu mươi hai phần trăm).

Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Đặng Văn L và Đặng Chính N đã chủ động, tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Mùi Thị Lệ Q tổn thất về tinh thần, cùng chi phí mai táng với tổng số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng); bồi thường cho bị hại Mùi Thị Tường V tổng số tiền 46.500.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 15/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Đặng Chính N về tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Sơn La đã quyết định đối với bị cáo Đặng Chính N:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Đặng Chính N phạm tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

- Xử phạt bị cáo Đặng Chính N 30 (Ba mươi) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời hạn Cải tạo không giam giữ của bị cáo Đặng Chính N tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Sơn La trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Đặng Chính N.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 590, 591 Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận việc các bị cáo và đại diện gia đình bị hại Mùi Thị Lệ Q đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường với nhau số tiền 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng).

Ghi nhận việc các bị cáo và bị hại, đại diện gia đình bị hại Mùi Thị Tường V đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường với nhau số tiền 46.500.000đ (Bốn mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Ghi nhận việc bị hại và đại diện gia đình bị hại Đinh Thị C tự nguyện không yêu cầu các bị cáo bồi thường về dân sự.

Ghi nhận việc anh Đặng Hồng Minh tự nguyện không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản là chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu CHIEN THANG, có BKS: 12H-9635.

Ghi nhận các bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi N vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên tội danh, hình phạt đối với bị cáo Đặng Văn L; quyết định về án phí, xử lý vật chứng và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/6/2023 bị cáo Đặng Chính N có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin miễn trách nhiệm hình sự.

Quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp phúc thẩm, bị cáo giao nộp thêm các tài liệu mới gồm: Bằng khen của ông Đặng Văn Duồn là ông nội của bị cáo N, được Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La tặng do đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Đơn đề nghị có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã B xác nhận hoàn cảnh gia đình của bị cáo N.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Đặng Chính N đề nghị thay đổi nội dung kháng cáo, đổi từ nội dung kháng cáo xin miễn trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt sang kháng cáo xin chuyển loại hình phạt, từ hình phạt Cải tạo không giam giữ sang hình phạt tiền và trình bày tại phiên toà: Bị cáo thừa nhận hành vi giao cho bị cáo Đặng Văn L là người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn, hậu quả làm bị hại Mùi Thị Lệ Q chết, cháu Mùi Thị Tường V bị tỷ lệ tổn thương cơ thể 62%, cháu Đinh Thị C bị tỷ lệ tổn thương cơ thể 03%. Tuy nhiên, bị cáo không phải là người trực tiếp gây ra thiệt hại cho các bị hại, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tích cực cùng gia đình bị cáo L thăm hỏi, động viên và bồi thường cho gia đình các bị hại. Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình và rất ăn năn hối cải, bị cáo thường xuyên phải đi làm ăn xa nên xin Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng cho bị cáo chuyển sang hình phạt tiền để bị cáo có điều kiện đi lao động, kiếm thu nhập nuôi sống bản thân.

- Người có quyền lợi, N vụ liên quan anh Đặng Hồng M: Xác nhận chiếc xe CHIEN THANG là tài sản được góp tiền mua chung giữa anh Minh và bị cáo, nên anh Minh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường đối với thiệt hại của chiếc xe.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La sau khi phân tích đánh giá chứng cứ và xem xét nội dung kháng cáo, đã nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bị cáo Đặng Chính N đã có hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng, một người chết và hai người bị thương. Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, cùng với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự tuyên bị cáo Đặng Chính N mức án 30 tháng Cải tạo không giam giữ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, bị cáo giao nộp thêm tài liệu chứng cứ mới, gia đình bị cáo có ông nội là Đặng Văn Duồn có công với cách mạng, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú về việc bị cáo là lao động tự do, thường xuyên đi làm ăn xa. Do đó cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 29/3/2023 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Sơn La, chuyển hình thức chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ sang hình phạt tiền. Đề nghị xử phạt tiền bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Bị cáo Đặng Chính N nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng:

Hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Người đại diện hợp pháp cho bị hại Mùi Thị Lệ Q (đã chết) là anh Mùi Văn N, chị Đinh Thị H; bị hại cháu Mùi Thị Tường V và người đại diện hợp pháp anh Mùi Văn Cường, chị Hà Thị Thơm; bị hại cháu Đinh Thị C và người đại diện hợp pháp anh Đinh Văn H, chị Đinh Thị H; người có quyền lợi, N vụ liên quan anh Mùi Văn C đã được Toà án triệu tập hợp lệ, nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt và được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về kháng cáo của bị cáo Đặng Chính N:

Về hình thức, nội dung đơn kháng cáo:

Ngày 29/3/2023, Toà án nhân dân huyện P mở phiên toà sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Chính N về tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.

Ngày 10/6/2023, bị cáo Đặng Chính N có Đơn kháng cáo có các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong hạn và đảm bảo về hình thức nên được chấp nhận, xem xét, giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo từ xin miễn trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt sang kháng cáo xin thay đổi hình phạt từ Cải tạo không giam giữ sang phạt tiền, đồng thời giao nộp thêm các tài liệu mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Xét thấy, việc thay đổi kháng cáo của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội, bị cáo được quyền thay đổi kháng cáo theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự và đã giao nộp thêm các tài liệu mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, nên cần chấp nhận việc thay đổi kháng cáo của bị cáo tại phiên toà.

Về phạm vi và nội dung kháng cáo:

Về phạm vi giải quyết kháng cáo, do bị cáo thay đổi kháng cáo tại phiên toà, nên Hội đồng không xem xét nội dung kháng cáo xin miễn trách nhiệm hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt; Hội đồng xét xử chỉ xem xét nội dung kháng cáo mới của bị cáo, xin chuyển từ hình phạt Cải tạo không giam giữ sang hình phạt tiền.

Xét thấy, bị cáo N biết rõ Đặng Văn L không có giấy phép lái xe theo quy định, tay phải bị cụt, bị cáo lường trước được khả năng L gây nguy hiểm khi tham gia giao thông đường bộ rất cao nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, giao chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu CHIEN THANG cho Đặng Văn L điều khiển tham gia giao thông đường bộ. Hậu quả xảy ra, bị hại Mùi Thị Lệ Q chết, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của hai bị hại Mùi Thị Tường V và Đinh Thị C là 65%. Hành vi của bị cáo N đã vi phạm hai tình tiết định khung “Làm chết người” và “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%”. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Văn N về tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về hình phạt, theo quy định tại khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt Cải tạo không giam giữ đến 03 năm, Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Đặng Chính N mức án 30 tháng Cải tạo không giam giữ so với với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo là có phần nghiêm khắc. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo giao nộp thêm các tài liệu, chứng cứ mới gồm: Bằng khen của ông Đặng Văn Duồn là ông nội của bị cáo N, được Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La tặng do đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Đơn đề nghị có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã B xác nhận hoàn cảnh gia đình của bị cáo N; đồng thời việc thay đổi nội dung kháng cáo, từ hình phạt Cải tạo không giam giữ sang hình phạt tiền xuất phát từ việc bị cáo là lao động tự do, hoàn cảnh bố mẹ đều đã mất, bị cáo phải tự lao động nuôi sống bản thân, thường xuyên đi làm ăn xa nên việc chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ tại địa phương sẽ khó khăn cho công việc của bị cáo. Mặt khác, tại phiên toà bị cáo chứng minh được khả năng thi hành án đối với hình phạt tiền thông qua khối tài sản góp mua chung với anh Đặng Hồng Minh là chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu CHIEN THANG có BKS: 12H-9635; mặc dù gián tiếp gây ra nhưng bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả, thanh toán xong toàn bộ các khoản tiền bồi thường cho các bị hại và đều được gia đình các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo đã nhận thức rõ hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển tham gia giao thông đường bộ của mình là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện rõ thái độ ăn năn, hối cải và mong nhận được sự khoan hồng theo nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo Đặng Chính N phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã khắc phục xong toàn bộ hậu quả, hoàn cảnh nhân thân bị cáo là lao động tự do và có khả năng thi hành được hình phạt tiền nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, chuyển từ hình phạt Cải tạo không giam giữ sang hình phạt tiền, cần áp dụng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tung hình sự, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/BA-ST ngày 29/3/2023 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Sơn La theo hướng chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn đối với bị cáo Đặng Chính N.

Do bị cáo Đặng Chính N bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 4 Điều 264 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Toà án cấp phúc thẩm không xem xét các phần khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/BA-ST ngày 29/3/2023 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Sơn La do không bị kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Bị cáo Đặng Chính N là người dân tộc thiểu số, sống ở khu vực có điều kiện, kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Chính N; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 29/3/2023 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Sơn La; như sau:

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Đặng Chính N phạm tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

- Xử phạt bị cáo Đặng Chính N 25.000.000 đ (Hai mươi lăm triệu đồng).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đặng Chính N.

2. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Đặng Chính N.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày 20/6/2023).

Cỡ chữ