vanban.org

Bản án 21/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 12/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phương Văn Thuận - phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HS-PT
Ngày 12-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngôn Ngọc Viên.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Thụ;

Bà Doanh Thị Mây.

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quang Toàn, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nông Thị Thùy Dương, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 18/2023/TLPT-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Phương Văn T do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đối với Bản án sơ thẩm số: 06/2023/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng.

- Bị cáo bị kháng nghị:

Họ và tên: Phương Văn T, sinh ngày 14 tháng 9 năm 1971 tại xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: nông dân; trình độ văn hoá: không; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phương Văn Y và bà Lương Thị S (đều đã chết); có vợ là Hứa Thị T1, sinh năm 1978 và 01 con; tiền án, tiền sự: không có; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 10-6-2022 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Mã Văn K, chuyên viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện H, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người phiên dịch tiếng Nùng: Ông Dương Văn S1, trú tại thị trấn X, huyện H, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hổi 13 giờ 00 phút, ngày 06 tháng 6 năm 2022, Đồn biên phòng L phối hợp với Công an xã M và Công an xã L, huyện H đang làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực xóm L thuộc xóm B, xã L, huyện H thì phát hiện 02 người đàn ông đi xe máy biển kiểm soát 11G7-8017 đang đi từ Lũng Thanh thuộc xóm B, xã L về hướng thị trấn T có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra xác định được người đàn ông điểu khiển xe máy có tên là Triệu Văn T2, sinh ngày 11/5/1979, trú tại: xóm L, xã M, huyện H và người ngồi sau xe là Mông Văn S2, sinh năm 1985, trú tại Bản S, xã M, huyện H. Tiến hành kiểm tra người và phương tiện phát hiện bên trong túi quần đằng trước bên phải S2 có 02 gói chất bột màu trắng, S2 khai 02 gói chất bột màu trắng là ma túy nên Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ tang vật liên quan đến vụ án gồm: 02 gói chất bột màu trắng thu giữ của Mông Văn S2 nghi là ma túy; 01 xe mô tô BKS: 11G7-8017 của Triệu Văn T2; 02 điện thoại di động, trong đó 01 cái nhãn kiệu NOKIA 105 màu xanh của Mông Văn S2 và 01 cái nhãn hiệu OPPO màu xanh, màn hình cảm ứng của Triệu Văn T2 đều đã qua sử dụng.

Qua xác minh, đối tượng Triệu Văn T2 không liên quan đến hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của S2 nên cùng ngày Đồn biên phòng cửa khẩu L đã ra Quyết định trả tự do cho Triệu Văn T2 cùng 01 xe máy và 01 điện thoại di động.

Ngày 07/6/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành cân xác định khối lượng ma túy thu giữ của Mông Văn S2 kết quả cân có khối lượng là 0,45g (không phẩy bốn mươi năm gam) và tách lấy mẫu gửi giám định. Đến ngày 16/6/2022 Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại: Heroine.

Căn cứ vào lời khai của Mông Văn S2, các tài liệu xác minh Cơ quan điều tra có đủ chứng cứ chứng minh việc Phương Văn T đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho S2 vào các ngày 04 và 06/6/2022 nên ngày 10/6/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành khởi tố bị can và bắt bị can để tạm giam đối với Phương Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Sau khi có được ma túy cả 02 lần S2 và T trực tiếp sử dụng bằng hình thức hít ngay tại bàn uống nước ngay tại phòng khách nhà của T ở xóm L, Đ, T. Hành vi của T cho S2 sử dụng ma túy 02 lần ngay tại nhà của T đã phạm tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã bỏ lọt hành vi Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy Phương Văn T cho Mông Văn S2 sử dụng ma túy 02 lần ngay tại nhà của T nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã có Quyết định kháng nghị phúc thuận đối với Bản án sơ thẩm số 20/2022 ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện H. Tại bản án xét xử phúc thẩm số 51/2022 ngày 25/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xác định hành vi Phương Văn T cho Mông Văn S2 02 lần sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà là bỏ lọt hành vi phạm tội chứa chấp việc sử dụng ma túy đối với Phương Văn T nê đã hủy bản án sở thẩm, trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với hành vi của T về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại Bản án sơ thẩm số: 06/2023/HS-ST ngày 31-3-2023 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng đã quyết định:

Áp dụng khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phương Văn T.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phương Văn T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Phương Văn T 02 năm 6 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với hình phạt của Bản án số 20, ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện H xử phạt bị cáo T là 7 năm tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 9 năm 6 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 10/6/2022.

Ngoài ra, Bản án còn quyết định xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo. Ngày 20-4-2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 05/QĐKN-VKSCB kháng nghị Bản án sơ thẩm số: 06/2023/HS-ST ngày 31-3-2023 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng về tội danh đối với bị cáo Phương Văn T. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy Bản án sơ thẩm số: 06/2023/HS-ST ngày 31-3-2023 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng để điều tra, xét xử lại về tội danh đối với bị cáo Phương Văn T.

* Tại phiên toà phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.

Bị cáo Phương Văn T khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến đối với Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tại Cáo trạng số: 06/CT-VKSHL-HS ngày 09-3-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo Phương Văn T về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tại Bản án sơ thẩm số: 06/2023/HS-ST ngày 31-3-2023 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt bị cáo T 02 năm 6 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã ban hành Quyết định kháng nghị số: 05/QĐKN-VKSCB ngày 20-4-2023 đối với Bản án nêu trên.

Bản án số 20/2022/HS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử Phúc thẩm hủy bán án đối với hành vi của Phương Văn T để điều tra xét xử lại theo quy định chung. Mặt khác bản án 06/2023/HS-ST ngày 31-3-2023 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng không xét xử lại hành vi phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo T nhưng Tòa án nhân dân huyện H áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự và tổng hợp hình phạt của Phương Văn T là thiếu sót và không đúng quy định.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị số: 05/QĐKN-VKSCB ngày 20-4-2023 về phần tội danh đối với bị cáo Phương Văn T. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy Bản án sơ thẩm số: 06/2023/HS-ST ngày 31-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng để điều tra, xét xử lại về tội danh đối với bị cáo Phương Văn T. Bị cáo Phương Văn T không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo Phương Văn T tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên toà, có đủ căn cứ kết luận: Hồi 13 giờ ngày 06/6/2022, Đồn biên phòng Cửa khẩu L phối hợp với Công án xã M và Lý quốc đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực Lũng Thanh thuộc xóm B đã phát hiện và bắt quả tang Mông Văn S2 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine) trong người với khối lượng là 0,45g. Số ma túy này do bị cáo S2 mua với bị cáo Phương Văn T vào buổi sáng ngày 06/6/2022 với số tiền 1.200.000đ tại nhà ở của bị cáo T. Bị cáo Phương Văn T đã bị xét xử và bị tuyên phạt 7 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Trước lần bị bắt quả tang bị cáo S2 còn được mua ma túy với T 01 lần vào ngày 04/6/2022 với số tiền 200.000đ tại nhà của T. Cả 02 lần S2 và T trực tiếp sử dụng bằng hình thức hít ngay tại bàn uống nước tại phòng khách của nhà T. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt bị cáo Phương Văn T 02 năm 6 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự là đúng người, nhưng Bản án áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với bản án số 20/2022/HS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng là không đúng theo quy định.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng. Bản án 20/2022/HSST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng đã bị TAND tỉnh Cao Bằng xét xử Phúc thẩm hủy bản án để điều tra xét xử lại theo thủ tục nhưng Bản án số 06/2023/HS-ST ngày 31-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng xét xử và áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự và tổng hợp hình phạt đối với bị cáo T là không đúng theo quy định. Do vậy, Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đề nghị hủy Bản án sơ thẩm số: 06/2023/HS-ST ngày 31-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng để điều tra lại đối với bị cáo Phương Văn T có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Bản án sơ thẩm bị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng kháng nghị nên bị cáo Phương Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, hủy Bản án sơ thẩm số: 06/2023/HS-ST ngày 31-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng đối với Phương Văn T. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng để điều tra lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Phương Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ