vanban.org

Bản án 21/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 20/02/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị H được ly hôn anh Hồ Đăng T;

Về con chung: Toà án không xem xét Về tài sản chung, nợ chung: Toà án không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H ly hôn anh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị H được ly hôn anh Hồ Đăng T;
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20/02/2023
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Lưu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Văn Ngọc

2. Ông Nguyễn Xuân Thí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 48/2022/TLST-HNGĐ ngày 07/4/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2380/2022/QĐ-ST ngày 26 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: - Chị Hồ Thị H; sinh năm: 1999; địa chỉ: Thôn Đức T, xã Đức T, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

Bị đơn:

- Anh Hồ Đăng T; sinh năm: 1996; địa chỉ: Thôn Đông Đ, xã Đức T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; hiện đang trú tại: Lemgoer Str8 130 86 Berlin, Cộng hoà liên bang Đức. Vắng mặt.

Thân nhân bị đơn ông Hồ Đăng N; sinh năm: 1963; địa chỉ: Thôn Đông Đ, xã Đức T, huyện Bố T, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 31/3/2022, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Hồ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị H và anh Hồ Đăng T kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 7 năm 2019 tại Uỷ ban nhân dân xã Đức T, huyện Bố T, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì anh T đi nước ngoài, đến năm 2021 giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Vì điều kiện làm việc cũng như khoảng cách về thời gian và địa lý nên mâu thuẫn phát sinh càng nhiều. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính cách không phù hợp, vợ chồng không còn sự tin tưởng lẫn nhau về tình cảm lẫn kinh tế. Chị H nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Hồ Đăng T: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã uỷ thác tư pháp ra nước ngoài thông qua Đại sứ quán Việt Nam tại Đức để yêu cầu cơ quan này tống đạt các văn bản tố tụng và thu thập lời khai đối với anh Hồ Đăng T; thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài tiếng nói Việt Nam (VOV5), đồng thời thông báo cho người thân (gia đình anh T) biết để người thân thông báo cho anh T biết việc chị H xin ly hôn,nhưng đến nay không nhận được ý kiến phản hồi của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và không nhận được lời khai cũng như tài liệu, chứng cứ của chị H gửi về.

- Ý kiến trình bày của ông Hồ Đăng N (bố của anhT): Anh T đã đi qua Đức làm ăn từ năm 2019 đến nay chưa về, hiện đang trú đúng như địa chỉ mà chị H đã cung cấp cho Toà án; anh T có liên lạc với gia đình bằng điện thoại và có nói cho bố biết việc vợ chồng H – T đang làm thủ tục ly hôn và mong muốn Toà án tỉnh Quảng Bình giải quyết ly hôn vì vợ chồng không còn tình cảm, về con chung và về tài sản chung con tôi không có nên không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; anh T vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do nên đề nghị xét xử vắng mặt anh T. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H, xử cho chị H được ly hôn anh Hồ Đăng T; Về con chung và tài sản chung: không có nên không xem xét; về án phí ly hôn sơ thẩm buộc chị H phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Anh Hồ Đăng T là công dân Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại: Thôn Đông Đ, xã Đức T, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Theo thông tin cung cấp của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an thì anh Hồ Đăng T đã sử dụng hộ chiếu xxxxxxxx xuất cảnh ngày 02/9/2019 qua sân bay quốc tế Nội Bài, chưa thấy thông tin nhập cảnh. Theo chị H cung cấp thì hiện anh T có địa chỉ tại: Lemgoer Str8 130 86 Berlin, Cộng hoà liên bang Đức.

Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Toà án cho anh Hồ Anh T ở nước ngoài như: Toà án đã uỷ thác tư pháp thông qua Đại sứ quán của Việt Nam tại Đức để yêu cầu công khai các văn bản tố tụng tại trụ sở và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức; thông báo qua kênh dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của Đài tiếng nói Việt Nam VOV5; gửi văn bản tố tụng về gia đình của bị đơn (anh T), thực hiện niêm yết văn bản tại địa phương, tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình. Toà án đã mở phiên toà lần thứ nhất vào ngày (19/01/2023) anh T vắng mặt nên đã hoãn phiên toà. Tại phiên toà hôm nay anh T tiếp tục vắng mặt và không có đơn đề nghị xử vắng mặt. Căn cứ Điều 277, Điều 228, điểm c khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử thấy chị Hồ Thị H và anh Hồ Đăng T kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Theo như chị Hồ Thị H trình bày thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, tính cách không phù hợp nên thường xuyên xảy ra cãi nhau. Chị H khẳng định tình cảm không còn và xin được ly hôn với anh T. Đối với anh T, quá trình giải quyết không gửi ý kiến về cho Toà án, tuy nhiên theo ý kiến của ông N (bố anh T) cho biết thì anh T đã biết việc chị H xin ly hôn và anh T cũng đồng ý ly hôn. Điều này thể hiện anh T cũng không còn tình cảm với chị H. Xét thấy, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị Hồ Thị H được ly hôn anh Hồ Đăng T.

.Về con chung: Không có, nên không xét xét

. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không xem xét.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp; [2.5].Về lệ phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài và đăng tin VOV5: Tổng số tiền phải nộp 3.180.000đồng. Số tiền này chị Hồ Thị H tự nguyện chịu toàn bộ (chị H đã nộp đủ) .

[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo luật định tại Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 153, Điều 474, điểm b khoản 3 và điểm c khoản 5 Điều Điều 474, khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Áp dụng Điều 51, Điều 56, 58, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị H được ly hôn anh Hồ Đăng T;

2.Về con chung: Toà án không xem xét

3.Về tài sản chung, nợ chung: Toà án không xem xét.

4.Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Hồ Thị H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai số 31AA/2021/0004957 ngày 18/4/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.

5. Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh T có quyền kháng cáo bản án này trọng hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án (20/02/2023).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ