- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08-3-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Quế Lan
2. Ông Ngô Minh Thi
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 08 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 274/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Huỳnh T, sinh năm 1997. (Có mặt)
Địa chỉ: Khu vực 3, phường C, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Châu T, sinh năm 1994. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 850/89, khu vực 10, phường C, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/10/2022 và quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Nguyễn Huỳnh T trình bày: Vào năm 2018, chị và anh Nguyễn Châu T do quen biết, tìm hiểu nên tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới nhưng đến ngày 20/9/2019 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng mọi quan điểm cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau trong mọi vấn đề. Sau khi cãi nhau thì anh T bỏ về cha mẹ ruột sinh sống nên anh chị ly thân từ năm 2020 đến nay. Từ khi ly thân đến nay vẫn không hàn gắn được tình cảm gia đình. Nay xét thấy không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh T.
Về con chung: Có một con tên Nguyễn Huỳnh Ngọc H (nữ), sinh ngày 07/10/2019. Khi ly hôn, chị xin được tiếp tục con đến trưởng thành, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn anh Nguyễn Châu T nhưng anh T vắng mặt nhiều lần không rõ lý do. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nên Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 207 và Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Huỳnh T và anh Nguyễn Châu T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và điều chỉnh. Quá trình chung sống, có phát sinh mâu thuẫn nên chị T khởi kiện ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ nhưng anh T vắng mặt nhiều lần không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2019, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.
Tại phiên tòa hôm nay, chị T cho rằng từ năm 2020 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường bất hòa về tình cảm và kinh tế gia đình nên thường xuyên cãi nhau, anh T không quan tâm gia đình nên cuộc sống không hạnh phúc. Chị đã cố gắng hàn gắn lại tình cảm gia đình nhưng không có kết quả, sau đó anh T bỏ về cha mẹ ruột sinh sống nên anh chị ly thân từ năm 2020 đến nay. Trong thời gian ly thân, anh chị không còn quan tâm gì đến nhau. Do thời gian ly thân đã lâu, chị T đã không còn tình cảm với anh T nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc triệu tập anh T đúng trình tự luật định để tham gia tố tụng tại tòa và có ý kiến đối với hôn nhân của mình nhưng phía anh T nhiều lần vắng mặt không rõ lý do. Điều đó cho thấy anh T đã không còn thiết tha gì đến cuộc hôn nhân này, mâu thuẫn giữa các đương sự đã thực sự trầm trọng và cho đến nay không có biện pháp khắc phục, mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Do vậy, yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh T là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị T xác định chị và anh T có một con tên Nguyễn Huỳnh Ngọc H (nữ), sinh ngày 07/10/2019. Khi ly hôn chị T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ngọc H đến trưởng thành.
Hội đồng xét xử xét thấy, chị T đang nuôi dưỡng cháu Ngọc H, cháu Ngọc H đang sống ổn định với chị T, chị T có đảm bảo cho cháu điều kiện về sinh hoạt cũng như đảm bảo cho sự phát triển về mọi mặt của trẻ, hơn nữa cháu Ngọc H mới hơn 03 tuổi nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, ổn định cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ngọc H đến trưởng thành là phù hợp.
Mặc dù anh T không trực tiếp nuôi con nhưng pháp luật dành cho anh T quyền được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở anh T thực hiện quyền này.
Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Do anh T vắng mặt nên chưa xác định được phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều:
- Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51; 56; 57; 81; 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Huỳnh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Huỳnh T được ly hôn anh Nguyễn Châu T.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huỳnh Ngọc H (nữ), sinh ngày 07/10/2019 cho chị Nguyễn Huỳnh T trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Anh Nguyễn Châu T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở anh T thực hiện quyền này.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Huỳnh T phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0003681 ngày 24/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn sang thành tiền án phí (công nhận chị T đã nộp xong).
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đươc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Q. Ô Môn; - Chi cục THADS Q. Ô Môn; - TAND TP. Cần Thơ; - UBND phường C; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Thị Thúy Hằng |