vanban.org

Bản án 21/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Lương Văn Th.

2- Về con chung: Giao cháu Lương Bảo D sinh ngày 14/4/2017 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu D đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Giao cháu Lương Hoàng T, sinh ngày 25/2/2007 cho anh Lương Văn Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T đủ 18 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lưu - Thin"
  • Tòa quyết gì? 1- Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Lương Văn Th.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST
Ngày 07/8/2023
V/v xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh và bà Lường Thu Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Thanh Thúy - Thư ký Tòa án TAND huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023 về việc xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST - DS ngày 07 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1980, có mặt.

Địa chỉ: Xóm LB, xã BL, huyện VN, tỉnh TN

Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân.

Bị đơn: Anh Lương Văn Th, sinh năm 1983, vắng mặt không có lý do.

Địa chỉ: Xóm LB, xã BL, huyện VN, tỉnh TN

Dân tộc: Nùng; Trình độ văn hóa: 02/12; Nghề nghiệp: Công nhân.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày: Chị kết hôn với anh Th năm 2005 đăng ký kết hôn tại UBND xã QT, huyện HL, tỉnh LS. Quá trình chung sống vợ chồng 02 con chung là Lương Hoàng T, sinh ngày 25/2/2007 và Lương Bảo D sinh ngày 14/4/2017. Tài sản chung anh chị có 02 chiếc xe mô tô và một số tài sản sinh hoạt trong gia đình. Nợ chung không có.

Về lý do xin ly hôn chị L cho rằng: Chị và anh Th kết hôn năm 2005, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì. Tuy nhiên tháng 02/2022 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do liên quan đến kinh tế không thể giải quyết được. Từ đó anh Th chơi bời nhiều hơn, không chăm lo cho gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không giải quyết được, anh Th chửi bới, đánh đập và còn dọa giết chị. Thậm chí còn đến cổng công ty nơi chị làm việc đánh chị, vợ chồng đã từng ly thân khoảng 3 tháng rồi về với nhau. Đến nay anh Th vẫn không thay đổi vợ chồng sống với nhau rất căng thẳng ảnh hưởng đến tâm lý của chị và các con, chị xác định vợ chồng không thể tiếp tục sống với nhau nữa nên chị làm đơn xin ly hôn anh Th. Về con chung chị đề nghị đối với cháu Lương Hoàng T, sinh ngày 25/2/2007 tùy nguyện vọng của cháu ở với ai người đó có trách nhiệm nuôi, đối với cháu Lương Bảo D sinh ngày 14/4/2017 chị đề nghị được nuôi cháu. Tài sản chung, chị sẽ tự thỏa thuận với anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung, không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Lương Văn Th: Sau khi nhận được đơn khởi kiện của chị L quá trình giải quyết vụ án Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Th không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Ngày 14/6/2023, Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã tiến hành xác minh tại UBND xã BL, Công an xã BL, ban xóm LB và gia đình anh Th xác định được các giấy triệu tập của Toà án đã giao nhận hợp lệ cho anh Th, gia đình anh Th nhận và đã thông báo cho anh Th biết, hiện nay anh Th vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương chưa cắt chuyển hộ khẩu tạm vắng đi đâu. Do anh Th không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử công khai.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà:

- Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng, Toà án thụ lý vụ án và tiến hành các thủ tục tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà phù hợp với các quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hàng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Xét thấy chị L và anh Th kết hôn năm 2005 đăng ký kết hôn tại UBND xã QT, huyện HL, tỉnh LS nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị của chị Hoàng Thị L cho chị L được ly hôn anh Lương Văn Th. Về con chung: Giao cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Lương Bảo D, sinh ngày 14/4/2017; Giao cho anh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Lương Hoàng T, sinh ngày 25/02/2007. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho chị L và anh Th do cả hai không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Án phí chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Đây là vụ án xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án bị đơn là anh Lương Văn Th cư trú tại Xóm LB, xã BL, huyện VN, tỉnh TN Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về sự vắng mặt của bị đơn: Ngày 22/3/2023 Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của chị L về việc xin ly hôn đối với anh Th. Quá trình giải quyết vụ án anh Th không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Ngày 14/6/2023, Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã tiến hành xác minh tại UBND xã BL, Công an xã BL, Ban xóm LB và gia đình anh Th xác định được các giấy triệu tập của Toà án đã giao nhận hợp lệ cho anh Th, gia đình anh Th nhận và đã thông báo cho anh Th biết, hiện nay anh Th vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương chưa cắt chuyển hộ khẩu tạm vắng đi đâu. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Hoàng Thị L và anh Lương Văn Th là cuộc hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp. Bởi lẽ trước khi kết hôn hai bên được tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã QT, huyện HL, tỉnh LS. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc. tuy nhiên tháng 02/2022 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn liên quan đến kinh tế, anh Th không chăm lo cho gia đình, mà còn chửi bới, đánh đập chị L. Đến nay anh Th vẫn không thay đổi cách sống vợ chồng sống với nhau căng thẳng ảnh hưởng đến tâm lý của chị L và các con. Tại phiên tòa hôm nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn và đã ly thân từ tháng 2/2022, Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh Th không còn, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L xin được ly hôn anh Th.

. Về con chung: Quá trình chung sống chị L và anh Th có 02 con chung là Lương Hoàng T, sinh ngày 25/2/2007 và Lương Bảo D sinh ngày 14/4/2017, hiện nay đang ở với chị L. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị L đề nghị đối với cháu Lương Hoàng T, sinh ngày 25/2/2007 Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của cháu ở với anh Th vì hiện này cháu cũng đã 17 tuổi, đang học hành ổn định tại xã BL và đang sống cùng anh Th. Đối với cháu Lương Bảo D sinh ngày 14/4/2017 cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng. Tại phiên tòa hôm nay tuy vắng mặt anh Th, nhưng để đảm bảo cho các con của anh chị được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt và theo nguyện vọng của cháu T và chị L, Hội đồng xét xử xét cần giao cháu Lương Hoàng T, sinh ngày 25/2/2007 theo nguyện vọng của cháu cho anh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T đủ 18 tuổi và giao cháu Lương Bảo D sinh ngày 14/4/2017 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu D đủ 18 tuổi.

. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn đóng góp cấp dưỡng nuôi con đối với anh Th và chị L do chưa có yêu cầu.

. Về tài sản chung: Vợ chồng có 02 chiếc mô tô và một số tài sản sinh hoạt trong gia đình ngoài ra không có tài sản gì khác. Số tài sản trên chị L đề nghị tự thỏa thuận với anh Th, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về nợ chung: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Xét ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên chấp nhận.

Bởi lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1- Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Lương Văn Th.

2- Về con chung: Giao cháu Lương Bảo D sinh ngày 14/4/2017 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu D đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Giao cháu Lương Hoàng T, sinh ngày 25/2/2007 cho anh Lương Văn Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Sau khi ly hôn, chị L và anh Th có quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung.

3- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Hoàng Thị L và anh Lương Văn Th do chưa có yêu cầu.

4- Về tài sản chung: Không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5- Về nợ chung: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

6- Về án phí: Buộc chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền chị L đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên lai số 0003485 ngày 22/3/2023.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

6- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ