- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhân đơn xin ly hôn của chị Đoàn Thị Mỹ Hoa
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 5 năm 2023 (V/v: Tranh chấp HNGĐ) |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân và ông Đặng Viết Côi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên Tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2023/TLST – HNGĐ ngày 24 háng 3 năm 2023, về việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXX – ST ngày 4/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2023 ngày 19/5/2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Mỹ H , sinh năm 1997 (có mặt)
HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn K, xã K, huyện Ứng Hoà, TP. Hà Nội
* Bị đơn: Anh Vũ Văn H, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Nơi ĐKNKTT: thôn K, xã K, huyện U, TP. Hà Nội
Quê quán và nơi ở hiện nay: t hôn T , xã T, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai - Nguyên đơn chị Đoàn Thị Mỹ Hoa trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ Văn H là tự nguyện, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Trường Thịnh năm 2019. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại quê chồng một thời gian thì xuống quê vợ thôn Kim Bồng, xã Kim Đường làm ăn sinh sống, đồng thời anh H cắt chuyển khẩu về đây. Quá trình chung sống vợ chồng liên tục mâu thuẫn, cãi chửi nhau, đôi lúc còn đánh nhau; nguyên nhân do anh H chơi bời, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Từ nhiều tháng trước anh H đã bỏ lên trên nhà mẹ đẻ ở Trường Thịnh sinh sống; cũng từ thời gian đó vợ chồng sống ly thân cho đến nay, trong thời gian ly thân anh Hkhông quan tâm, hỏi han gì đến con cái. Nay, xét thấy không còn tình cảm gì với anh H, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên chị xin ly hôn với anh Hiệp để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Vũ Đoàn Phúc Thịnh, sinh ngày 31/7/2019 và cháu Vũ Đoàn Đức P, sinh ngày 18/02/2021, hiện cả hai cháu vẫn đang ở với chị. Sau ly hôn chị xin được nuôi cả 2 con và không yêu cầu anh Hiệp cấp dưỡng.
Về tài sản, công nợ chung, công sức: Chị Hoa đều xác nhận không có gì nên không đề nghị Tòa xem xét, giải quyết.
* Bị đơn: Anh Vũ Văn H vắng mặt nên không có quan điểm.
* Tại biên bản lấy lời khai bà Trương Thị H là mẹ đẻ anh H trình bày: Hôn nhân của chị Hoa và anh Hiệp là tự nguyện, hợp pháp. Năm 2019 gia đình bà đã tổ chức đám cưới cho anh chị theo phong tục địa phương. Sau khi cưới, vợ chồng sống cùng bà một thời gian, sau đó anh Hiệp chuyển xuống nhà vợ ở thôn Kim Bồng, xã Kim Đường làm ăn sinh sống. Quá trình chung sống vợ chồng không được hạnh phúc, đôi lúc có xô sát, cãi chửi nhau do anh Hiệp mải chơi. Từ tết Nguyên đán anh Hiệp về trên này ở không xuống quê vợ nữa. Qua tìm hiểu thì bà biết anh Hiệp có chơi bời, nợ nần dẫn đến vợ chồng lục đục, bà cũng đã nhiều lần khuyên giải nhưng không được. Hiện tại, anh chị sống ly thân. Bà không mong muốn nhưng nếu các con vẫn kiên quyết ly hôn thì đấy là quyền của các con. Trong thời gian sinh sống cùng bà, chị H không đóng góp công sức gì, cũng không có tài sản, công nợ gì. Bà xác nhận việc gia đình nhiều lần có nhận được giấy triệu tập của Tòa đối với anh Hiệp, bà và anh H đều biết việc chị Hoa xin ly hôn nhưng anh Hiệp có quan điểm sẽ không đến Tòa làm việc, mặc kệ chị H xin ly hôn, mặc kệ Tòa giải quyết. Nay, bà có quan điểm đề nghị Tòa giải quyết cho anh chị theo quy định pháp luật. Bà tiếp tục nhận các văn bản tố tụng của Tòa và cam kết sẽ giao lại cho anh H, động viên anh H đến Tòa làm việc.
* Tại biên bản xác minh, chính quyền địa phương xã trường Thịnh xác nhận: Chị Đoàn Thị Mỹ H và anh Vũ Văn H kết hôn năm 2019 là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại địa phương. Qúa trình chung sống của anh chị không có hạnh phúc do anh H chơi bời, thiếu trách nhiệm với gia đình, vợ con. Sau kết hôn một thời gian thì anh Hiệp có cắt chuyển khẩu về quê vợ ở xã Kim Đường và làm án, sinh sống ở đây. Gần một năm nay anh Hiệp về địa phương sinh sống, hiện tại vợ chồng đã ly thân, mỗi người một nơi. Căn cứ vào cuộc sống thực tế của chị H, anh H đề nghị tòa giải quyết cho chị H được ly hôn anh H.
Tại phiên tòa:
- Anh Vũ Văn H không có mặt tại tòa, không có quan điểm;
- Chị Đoàn Thị Mỹ H vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, xin được tiếp tục nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh Hiệp cấp dưỡng nuôi con.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan đểm:
+ Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho người thân của bị đơn; tuy nhiên, bị đơn cố tình trốn tránh không đến tòa để giải quyết vụ án nên việc Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn sau khi thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Xét lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy, trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đã có thời gian dài sống ly thân, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị H. Việc chị H xin được nuôi cả 2 con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện và phù hợp thực tế nên cần chấp nhận. Về tài sản, công sức và nợ chung chị H xác nhận đều không có gì nên không xem xét; giả thiết, nếu có sau này anh H có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử (Viết tắt: HĐXX) nhận định:
Về tố tụng: Chị Đoàn Thị Mỹ H và anh Vũ Văn H đều có hộ khẩu thường trú tại huyện Ứng Hòa, chị H làm đơn ly hôn, nộp các tài liệu kèm theo và đã nộp tiền tạm ứng án phí ly hôn. Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thụ lý, giải quyết vụ việc là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (Viết tắt: BLTTDS). Bị đơn anh H đã được triệu tập nhiều lần nhưng cố tình không có mặt, Tòa án đã tiến hành làm việc với gia đình, giao các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 179 BLTTDS cho bà Trương Thị Hương là mẹ đẻ anh Hiệp; bà Hương đều xác nhận việc đã giao các văn bản này cho anh H. Tại phiên Toà ngày 19/5/2023, do anh H vắng mặt không có lý do nên HĐXX hoãn phiên tòa và giao các văn bản tố tụng theo qui định; tại phiên tòa hôm nay anh H vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3, Điều 228 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về hôn nhân: Chị Đoàn Thị Kim Hoa và anh Vũ Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được một thời gian ngắn rồi phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh, cãi chửi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn để ổn định cuộc sống. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cũng phù hợp với lời khai của chị H. Xét đời sống, mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, cuộc sống không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; vì vậy, yêu cầu, đề nghị xin ly hôn của chị Hoa đối với anh Hiệp là phù hợp với qui định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng chị H, anh H có 02 con chung là Vũ Đoàn Phúc Thịnh, sinh ngày 31/7/2019 và Vũ Đoàn Đức Phúc, sinh ngày 18/02/2021, cả hai cháu đều dưới 36 tháng tuổi, từ khi vợ chồng ly thân đến nay vẫn đều do chị Hoa trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Đối với các cháu hiện nay rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ; hơn nữa, do anh H không có quan điểm nên yêu cầu này của chị Hoa là chính đáng, phù hợp về mọi mặt nên được chấp nhận. Việc chị H không yêu anh Hiệp cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên HĐXX không xét.
Về tài sản, công sức và công nợ chung: Chị H trình bày đều không có gì nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết. Giả thiết, nếu có thì anh H được quyền khởi kiện nội dung này trong vụ án dân sự khác.
Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí; nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Về quan điểm của Viện kiểm sát: Quan điểm, đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm, nhận định của HĐXX.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhân đơn xin ly hôn của chị Đoàn Thị Mỹ Hoa
Xử: Chị Đoàn Thị Mỹ Hoa được ly hôn với anh Vũ Văn Hiệp.
Về con chung: Giao chị Đoàn Thị Mỹ H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là Vũ Đòan Phúc T, sinh ngày 31/7/2019 và Vũ Đoàn Đức P, sinh ngày 18/02/2021 cho đến khi trưởng thành hoặc đến khi có đề nghị, thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Hiệp cho đến khi chị H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
Không ai được ngăn cản việc thăm hỏi con chung.
Về tài sản, công sức và nợ chung: Chị H xác nhận đều không có gì. Giành quyền khởi kiện cho anh H trong vụ án dân sự khác nếu có căn cứ.
Về án phí: chị Đoàn Thị Mỹ H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được đối trừ tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị H đã nộp theo biên lai số 0057925 ngày 24/03/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận : - TANDTP Hà Nội; - VKSND huyện Ứng Hoà; - Chi cục THADS huyện Ứng Hoà; - UBND xã Trường Thịnh; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án; VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Đình Kiến |