vanban.org

Bản án 21/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị Hồng Th.

Về quan hệ hôn nH1: Cho chị Hồ Thị Hồng Th ly hôn với anh Ngô Thanh H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình về việc ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị Hồng Th.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NH1 DÂN
HUYỆN TUY PH
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06-02-2023
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn.

NH1 DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH1 DÂN HUYỆN TUY PH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.

Các Hội thẩm nH1 dân:

1. Ông Phạm Thành Nghĩa.

2. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh, là Thư ký Tòa án nH1 dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nH1 dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nH1 dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 313/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022, về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2022/QĐXX-HNGĐ, ngày 16 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 05 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Hồng Th, sinh năm 1991; cư trú tại thôn Nho L, xã Phước H, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Ngô Thanh H, sinh năm 1991; cư trú tại thôn Nho L, xã Phước H, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Hồ Thị Hồng Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nhưng tại đơn khởi kiện, lời khai, nguyên đơn chị Hồ Thị Hồng Th trình bày: Chị và anh Ngô Thanh H kết hôn vào ngày 13 tháng 7 năm 2012 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nH1 dân xã Phước H, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định. Trước khi kết hôn giữa chị và anh Hiếu có tìm hiểu rồi tự nguyện đăng ký kết hôn chứ không ai ép buộc, lừa dối. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nH1 mâu thuẫn xuất phát từ việc giữa chị và anh Hiếu không còn phù hợp với nhau về tính cách, luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến chị và anh Hiếu thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, kình cãi với nhau. Nay chị và anh Hiếu không còn tình cảm gì với nhau nên chị yêu cầu ly hôn với anh Ngô Thanh H.

Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị có 02 người con chung là cháu Ngô Bảo H1, sinh ngày 28 tháng 9 năm 2012 và cháu Ngô Nhật Q, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2014. Chị yêu cầu giao các con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng; hiện nay chị đang trực tiếp nuôi dưỡng các con. Chị không yêu cầu anh Hiếu cấp dưỡng nuôi con.

Chị không yêu cầu Toà án giải quyết tài sản chung của vợ chồng chị. Hiện nay chị và anh Hiếu không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với ai khác. Ngoài ra chị không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nH1 dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định đã tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho bị đơn anh Ngô Thanh H tham gia tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Ngô Thanh H không có mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nH1 và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị Hồng Th, cho chị Hồ Thị Hồng Th được ly hôn với anh Ngô Thanh H; giao con chung của chị Hồ Thị Hồng Th và anh Ngô Thanh H là cháu Ngô Bảo H1, sinh ngày 28 tháng 9 năm 2012 và cháu Ngô Nhật Q, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2014 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Hồ Thị Hồng Th không yêu cầu anh Ngô Thanh H cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Chị Hồ Thị Hồng Th và anh Ngô Thanh H không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nguyên đơn chị Hồ Thị Hồng Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại thời điểm thụ lý vụ án và hiện nay bị đơn anh Ngô Thanh H cư trú tại thôn Nho L, xã Phước H, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định. Do đó theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nH1 dân huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Hồ Thị Hồng Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Ngô Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 227; điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Hồ Thị Hồng Th và bị đơn anh Ngô Thanh H.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nH1: Chị Hồ Thị Hồng Th và anh Ngô Thanh H kết hôn vào ngày 13 tháng 7 năm 2012 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nH1 dân xã Phước H, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69/2012, quyển số 01/2012. Việc kết hôn giữa chị Th và anh Hiếu tuân theo các điều kiện quy định tại Điều 9 của Luật hôn nH1 và gia đình năm 2000 nên hôn nH1 giữa chị Th và anh Hiếu là hợp pháp. Chị Hồ Thị Hồng Th yêu cầu ly hôn với anh Ngô Thanh H vì cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nH1 mâu thuẫn xuất phát từ việc giữa chị và anh Hiếu không còn phù hợp với nhau về tính cách, luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến chị và anh Hiếu thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, kình cãi với nhau. Tòa án thu thập các tài liệu, chứng cứ xác định nguyên nH1 mâu thuẫn giữa chị Th và anh Hiếu để tiến hành hòa giải, nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng chị Th và anh Hiếu, nhưng anh Hiếu không đến Tòa để tham gia hòa giải và tại phiên tòa hôm nay anh Hiếu tiếp tục vắng mặt. Do đó, có đủ căn cứ chứng minh hôn nH1 giữa chị Th và anh Hiếu đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nH1 không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nH1 và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét cho chị Th được ly hôn với anh Hiếu.

Về con chung: Chị Hồ Thị Hồng Th và anh Ngô Thanh H có 02 người con chung là cháu Ngô Bảo H1, sinh ngày 28 tháng 9 năm 2012 và cháu Ngô Nhật Q, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2014. Chị Hồ Thị Hồng Th yêu cầu giao các con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay chị Th đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1 và cháu Q; cháu H1 và cháu Q đều có nguyện vọng ở với chị Th. Vì vậy để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của cháu H1 và cháu Q, căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nH1 và gia đình năm 2014 giao cháu H1 và cháu Q cho chị Th trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Chị Hồ Thị Hồng Th không yêu cầu anh Ngô Thanh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Anh Hiếu có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Hiếu không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Th. Khi cần thiết chị Th và anh Hiếu đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nH1 và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị Hồ Thị Hồng Th và anh Ngô Thanh H đều không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn chị Hồ Thị Hồng Th phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 116, 117 của Luật hôn nH1 và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị Hồng Th.

2. Về quan hệ hôn nH1:

Cho chị Hồ Thị Hồng Th ly hôn với anh Ngô Thanh H.

Quan hệ hôn nH1 giữa chị Hồ Thị Hồng Th và anh Ngô Thanh H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69/2012, quyển số 01/2012 do Ủy ban nH1 dân xã Phước H, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định chứng nhận ngày 13 tháng 7 năm 2012 chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

3. Về con chung:

Giao con chung của chị Hồ Thị Hồng Th và anh Ngô Thanh H là cháu Ngô Bảo H1, sinh ngày 28 tháng 9 năm 2012 và cháu Ngô Nhật Q, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2014 cho chị Hồ Thị Hồng Th trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Hiện nay chị Hồ Thị Hồng Th đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1 và cháu Q.

Chị Hồ Thị Hồng Th không yêu cầu anh Ngô Thanh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Anh Ngô Thanh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Ngô Thanh H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Hồ Thị Hồng Th. Khi cần thiết chị Hồ Thị Hồng Th và anh Ngô Thanh H đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nH1 và gia đình năm 2014.

4. Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị Hồ Thị Hồng Th và anh Ngô Thanh H không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Hồ Thị Hồng Th phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị Hồ Thị Hồng Th đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006421 ngày 13 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Viện kiểm sát nH1 dân huyện Tuy Ph,

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;

- Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định;

- Ủy ban nH1 dân xã Phước H, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu Văn thư.

Văn Công Minh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

- Viện kiểm sát nH1 dân huyện Tuy Ph,

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;

- Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định;

- Ủy ban nH1 dân thị trấn Tuy Ph, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu Văn thư.

Văn Công Minh

Cỡ chữ