vanban.org

Bản án 21/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Phạm Thị Thúy V.

Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Thúy V và anh Vũ Quốc T được ly hôn. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Thúy V-Vũ Quốc T-Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Phạm Thị Thúy V.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10-4-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Lộc

Bà Cao Thị Kim Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hội - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 115/ 2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thúy V

sinh năm 1987

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A, ấp D, xã G huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ liên lạc: Số B, ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

2. Bị đơn:

Anh Vũ Quốc T

sinh năm 1981

Địa chỉ: Số A, ấp D, xã G huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 11 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - chị Phạm Thị Thúy V trình bày:

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Thúy V và anh Vũ Quốc T quen biết, tìm hiểu và yêu nhau được khoảng hơn nửa năm thì tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 22/6/2009. Tuy nhiên, sau khi chung sống được khoảng hơn bốn năm thì phát sinh mâu thuẫn nên chị V và anh T đã thuận tình ly hôn theo Quyết định số 195/2014/QĐST-HNGĐ ngày 04/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Theo chị V, sau khi ly hôn hai bên nhận thấy vẫn còn tình cảm với nhau và trách nhiệm với con chung nên cả hai đã quay về đoàn tụ và đăng ký kết hôn lại nên được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 05/3/2018.

Tuy nhiên, kể từ khi quay về đoàn tụ vợ chồng vẫn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nhưng đến khoảng giữa năm 2022 thì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, nguyên nhân là do anh T là người chồng người cha sống không có trách nhiệm với gia đình, mặc dù anh T có đi làm nhưng không phụ giúp chị V chi phí sinh hoạt gia đình, chị V có nhiều lần khuyên anh T thay đổi nhưng không được. Cũng từ khoảng giữa năm 2022 cho đến nay, chị V và các con đã về nhà cha mẹ đẻ của chị V ở xã G, huyện T sống cho đến nay, vợ chồng không liên lạc hay nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn, anh T cũng không quan tâm hỏi thăm gì đến con cái.

Nay chị V nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn vì tình cảm không còn nên chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Quốc T.

- Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là cháu Vũ Ngọc Tâm N, sinh ngày 23/4/2010; cháu Vũ Ngọc Khánh N1, sinh ngày 22/02/2018 và cháu Vũ Minh N2, sinh ngày 10/7/2019, hiện các con chung đều đang sống với chị V. Khi ly hôn, chị V yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục ba con chung. Chị V không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị Thúy V khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn - anh Vũ Quốc T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều không đến tham dự (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do) nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Phạm Thị Thúy V và anh Vũ Quốc T được ly hôn.

+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Vũ Ngọc Tâm N, sinh ngày 23/4/2010; cháu Vũ Ngọc Khánh N1, sinh ngày 22/02/2018 và cháu Vũ Minh N2, sinh ngày 10/7/2019 cho chị V được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị V không yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.

+ Về án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung với bị đơn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo kết quả xác minh, hiện bị đơn đang cư trú tại xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do). Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thúy V và anh Vũ Quốc T tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 22/6/2009. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn nên chị V và anh T đã thuận tình ly hôn theo Quyết định số 195/2014/QĐST-HNGĐ ngày 04/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, chị V và anh T tự nguyện kết hôn lại và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 05/3/2018, căn cứ Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây được xem là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, nhận thấy: Chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, chị V và anh T đã không còn sống chung với nhau từ khoảng giữa năm 2022 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình; sự việc này mặc dù không được anh T thừa nhận nhưng phù hợp với kết quả xác minh ngày 22/02/2022 tại Ban ấp Dốc Mơ 3, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai xác định:“... Quá trình vợ chồng chị V, anh T chung sống với nhau có xảy ra mâu thuẫn nhưng ban ấp không nắm được nguyên nhân do không nhận được đơn yêu cầu hòa giải mâu thuẫn của vợ chồng chị V, anh T ... hiện chị V và các con không còn sống cùng anh T đại địa chỉ A, ấp D, xã G, huyện T mà chuyển về nhà cha mẹ đẻ của chị V sinh sống ...”; Phiếu yêu cầu xác minh ngày 03/01/2023 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai xác định: “ ...Qua xác minh, ... tại số nhà B, ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai, chị Phạm Thị Thúy V sống cùng bố mẹ ruột, chị V không sống cùng anh T ... UBND xã không biết gì về mâu thuẫn của chị V và anh T ...” và Phiếu yêu cầu xác minh ngày 03/01/2023 tại Công an xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai xác định: “Anh Vũ Quốc T không sinh sống tại số B, ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai ...Trong quá trình chung sống, chị V và anh T không trình báo công an về hành vi bạo lực gia đình ...”. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để kêu gọi vợ chồng về đoàn tụ gia đình nhưng anh T đều không đến thể hiện việc anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị V.

Từ các phân tích trên, xét mâu thuẫn giữa chị V và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị V là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị V và anh T có ba con chung là cháu Vũ Ngọc Tâm N, sinh ngày 23/4/2010; cháu Vũ Ngọc Khánh N1, sinh ngày 22/02/2018 và cháu Vũ Minh N2, sinh ngày 10/7/2019.

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Theo kết quả xác minh ngày 03/01/2023 của Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai xác định: “... Các cháu N, N1, N2 sống cùng chị V, các cháu vẫn theo học tại các trường lớp trước đây đang theo học kể từ khi chuyển từ xã G về địa phương. UBND xã không tiếp nhận thông tin việc chị V bỏ bê, không chăm sóc con cái hay ngăn cản việc không cho thăm con, chăm con của anh T ...”. Như vậy, hiện các con chung đang sống cùng với chị V và chị V đảm bảo điều kiện chăm sóc cho con chung; yêu cầu của chị V phù hợp với nguyện vọng của con chung. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ, Hội đồng xét xử xét cần tiếp tục giao ba con chung cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Chị V hiện có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc cho con chung. Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng chị V không yêu cầu nên tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị V xác định không có nợ chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp các đương sự không tự thỏa thuận và có yêu cầu thì được quyền liên hệ với Tòa án có thẩm quyền để khởi kiện bằng một vụ kiện khác về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.

Về án phí: Chị Phạm Thị Thúy V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Phạm Thị Thúy V.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Thúy V và anh Vũ Quốc T được ly hôn.

2. Về con chung:

2.1. Giao cháu Vũ Ngọc Tâm N, sinh ngày 23/4/2010; cháu Vũ Ngọc Khánh N1, sinh ngày 22/02/2018 và cháu Vũ Minh N2, sinh ngày 10/7/2019 cho chị Phạm Thị Thúy V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

2.2 Anh Vũ Quốc T được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

2.3 Tạm thời anh Vũ Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Phạm Thị Thúy V không yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị Thúy V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0009080 ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chị Phạm Thị Thúy V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ