- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Bích T yêu cầu ly hôn anh Tô Hoàng G"
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN G Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27-02-2023 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Phước
2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyê ̣n Thoại Sơn, tỉnh An G.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 02 năm 2023, ta ̣i tru ̣ sở Tòa án nhân dân huyê ̣n Thoại Sơn, tỉnh An G xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án thu ̣ lý số: 442/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 1, khóm VT, thị trấn VB, huyện CT, tỉnh An Giang. Số điện thoại liên hệ: 0569.273.xxx
- Bị đơn: Anh Tô Hoàng G, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp PA, xã AB, huyện ThS, tỉnh An Giang. Số điện thoại liên hệ:
0394.737.xxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Bích T trình bày:
Chị và anh G do mai mối nên tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 30/7/2008 tại UBND xã AB, huyện ThS, tỉnh An Giang. Trong thời gian chung sống, anh G thường xuyên uống rượu, say sỉn và gây sự chưởi mắng vợ con vô cớ, có khi còn chưởi luôn cả gia đình bên vợ. Dù đã nhiều lần chị T cố gắng khuyên nhủ nhưng anh G vẫn không chịu thay đổi, mâu thuẫn giữa vợ chồng càng lúc càng nghiêm trọng. Đến năm 2019 thì cả hai đã sống ly thân đến nay, hai bên không có ý định hàn gắn, gia đình hai bên cũng không có ý kiến. Nay nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn anh G.
Về con chung: Có hai con chung tên Tô Ri Đ, sinh ngày 14/8/2010 và Tô N, sinh ngày 02/3/2019. Hiện hai con đang sống chung với chị T nên khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh G cấp dưỡng.
- Về quan hệ tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nợ chung ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để chị T và anh G thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh G nhưng anh G đều vắng mặt không lý do nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh G nhưng anh G tiếp tục vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Tại phiên tòa: Chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh G; yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là cháu Tô Ri Đ và Tô N, không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn trình bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Anh G vắng mặt lần thứ hai không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn anh G; giao cháu Tô Ri Đ và Tô N cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh G không cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu; tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Bích T và anh Tô Hoàng G chung sống với nhau có đăng ký kết hôn (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 31, do UBND xã AB, huyện ThS, tỉnh An Giang cấp ngày 30 tháng 7 năm 2008). Anh Tô Hoàng G có hộ khẩu thường trú tại: Ấp PA, xã AB huyện ThS, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh Tô Hoàng G vắng mặt lần thứ hai không lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Xét việc tranh chấp:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh G xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 30/7/2008 tại UBND xã AB, huyện ThS, tỉnh An Giang theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Theo chị T trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do anh G không tôn trọng chị và gia đình chị, nhiều lần nhậu say đánh chửi chị và gia đình chị vô cớ, mặc dù chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh G không thay đổi khiến cho mâu thuẫn vợ chồng càng lúc càng trầm trọng, đến năm 2019 thì cả hai đã sống ly thân và đến nay cũng không còn muốn hàn gắn nên chị T yêu cầu ly hôn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở các phiên hòa giải để hai bên có cơ hội hàn gắn nhưng anh G đều vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị T cho thấy mâu thuẫn của cả hai đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị T là có cơ sở. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T, chị T được ly hôn anh G.
Về con chung: Chị T trình bày chị và anh G có hai con chung tên Tô Ri Đ, sinh ngày 14/8/2010 và Tô N, sinh ngày 02/3/2019. Hiện hai cháu đang sống với chị nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh G cấp dưỡng.
Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu Tô Ri Đ thể hiện nguyện vọng của cháu muốn tiếp tục sống với mẹ. Anh G vắng mặt và cũng không có ý kiến về yêu cầu nuôi con. Do đó, để đảm bảo cho các con chung được phát triển bình thường và ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Tô Ri Đ và Tô N cho chị Nguyễn Thị Bích T tiếp tục nuôi dưỡng. Do chị T không yêu cầu anh G cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh G vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến và yêu cầu nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích T được ly hôn anh Tô Hoàng G.
Giấy chứng nhận kết hôn số 31, do UBND xã AB, huyện ThS, tỉnh An G cấp ngày 30 tháng 7 năm 2008 cho chị Nguyễn Thị Bích T và anh Tô Hoàng G không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Tô Ri Đ, sinh ngày 14/8/2010 và Tô N, sinh ngày 02/3/2019 cho chị Nguyễn Thị Bích T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Tô Hoàng G không cấp dưỡng nuôi con.
Anh Tô Hoàng G và các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của chị Nguyễn Thị Bích T. Chị Nguyễn Thị Bích T và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Tô Hoàng G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009438 ngày 18/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, chị T không phải nộp thêm.
Anh Tô Hoàng G không phải chịu án phí.
Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An G (1); - VKSND huyện Thoại Sơn (1); - THADS huyện Thoại Sơn (1); - UBND xã An Bình (1); - Các đương sự (2); - Lưu văn phòng (1); - Lưu hồ sơ (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Mỹ Linh |