vanban.org

Bản án 21/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thoả thuận, thuận tình ly hôn giữa anh Lê Đăng H và chị Nguyễn Thị T.

[2] Về con chung: Giao con chung Lê Nguyễn Yên Đ, Sinh ngày: 02/3/2020 cho anh Lê Đăng H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành. Giao con chung Lê Nguyễn Đăng K, sinh ngày: 14/06/2022 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến lúc trưởng thành. Tạm ho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thoả thuận, thuận tình ly hôn giữa anh Lê Đăng H và chị Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ PHONG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST
Ngày 22/09/2023
V/v: “Tranh chấp về ly hôn,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kim Ngọc Nguyên

Ông Lang Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Huyền Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hồ Văn Cương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 39/2023/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXX-ST ngày 23 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Đăng H, sinh năm: 1988. Có mặt

Nơi cư trú: xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1983. Có mặt

Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện Q, Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 16/06/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Lê Đăng H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Đăng H và chị Nguyễn Thị T, tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Sơn, huyện Quỳnh Lưu vào năm 2019.

Lý do xin ly hôn: Trong quá trình chung sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng không hạnh phúc. Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm. Vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh Lê Đăng H làm đơn xin ly hôn yêu cầu Toà án huyện Quế Phong giải quyết việc ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

Về con chung: Anh Lê Đăng H và chị Nguyễn Thị T có 02 người con chung: Lê Nguyễn Yên Đ, Sinh ngày: 02/3/2020 và Lê Nguyễn Đăng K, sinh ngày: 14/06/2022. Anh H có nguyện vọng được nuôi con chung Lê Nguyễn Yên Đ cho đến tuổi trưởng thành. Còn chị Nguyễn Thị T nuôi cháu Lê Nguyễn Đăng K. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay chị Thuý trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T thừa nhận vợ chồng chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UNND xã Tân Sơn, huyện Quỳnh Lưu. Nay anh Hiền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, Chị Thuý cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Như anh H đã trình bày vợ chồng có 02 người con chung. Chị Nguyễn Thị T có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung và yêu cầu anh H phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Theo Biên bản xác minh ngày 10/7/2023 thì anh H và chị T sau khi kết hôn, chung sống với nhau tại thôn L, xã T, huyện Q từ năm 2019, trong hộ gia đình bà Hoàng Thị T (Mẹ của chị Nguyễn Thị T). Trong thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc do không tìm được tiếng nói chung, đã sống ly thân được một thời gian.

Tại phiên toà anh H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị T cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị T đề nghị Toà án công nhận thoả thuận thuận tình ly hôn của anh H và Chị T. Chị T vẫn yêu cầu được nuôi cả hai con chung nhưng không yêu cầu anh H phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung nữa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến khi phiên toà hôm nay, thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã tuân theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho Anh Lê Đăng H được ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Lê Nguyễn Yên Đ, Sinh ngày: 02/3/2020 cho anh Lê Đăng H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành; giao con chung Lê Nguyễn Đăng K, sinh ngày: 14/06/2022 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho cả anh H và chị T.

Về tài sản chung: Anh H và chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc anh Lê Đăng H phải chịu toàn bộ án phí LHST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về Tố tụng: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Đăng H và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được UBND xã Tân Sơn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn, ngày đăng ký 06/09/2019. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, không quan tâm, không chăm sóc, không có sự yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Anh Lê Đăng H và chị Nguyễn Thị T đã sống ly thân làm cho tình trạng hôn nhân càng trở nên trầm trọng. Nay anh H và chị T đều thống nhất thoả thuận, thuận tình ly hôn. Do vậy, cần căn cứ Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình, để công nhận thoả thuận này của các đương sự.

Về con chung: Theo tài liệu, hồ sơ trong vụ án thể hiện anh H và chị T có 02 người con chung Lê Nguyễn Yên Đ, Sinh ngày: 02/3/2020 và Lê Nguyễn Đăng K, sinh ngày: 14/06/2022. Sau khi ly hôn Anh H có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Nguyễn Yên Đ; giao chị T nuôi con nhỏ Lê Nguyễn Đăng K. Chị T có nguyện vọng nuôi cả hai con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của anh H và chị T là hoàn toàn chính đáng. Về điều kiện nuôi con chung, cả anh H và chị T đều là lao động tự do, có thu nhập nhưng không ổn định, cả hai đều không có nhà riêng, đều đang ở cùng mẹ đẻ, cả anh H và chị T đều di chuyển đi lại làm ăn không ổn định, các con đang ở cùng với bà ngoại (mẹ của chị T) nay đã 73 tuổi. Nếu giao cả 02 con chung cho một người nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo đủ điều kiện nuôi con chung. Để giảm bớt gánh nặng cho một người và cũng là san sẻ trách nhiệm của cha mẹ đối với con nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao cho anh H, chị Th mỗi người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung. Hiện cháu K còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ hơn, nên nguyện vọng của anh Hiền được nuôi cháu lớn, giao cháu nhỏ cho mẹ nuôi là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của anh H, chị T và quy định của luật hôn nhân gia đình.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên toà chị T không yêu cầu anh H phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng cả hai con chung nữa. Do anh H và Chị T mỗi người đều trực tiếp nuôi dưỡng một con chung nên Anh H và chị T chưa phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp.

Về quan hệ tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh H phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tại phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51,55, 56,81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thoả thuận, thuận tình ly hôn giữa anh Lê Đăng H và chị Nguyễn Thị T.

[2] Về con chung: Giao con chung Lê Nguyễn Yên Đ, Sinh ngày: 02/3/2020 cho anh Lê Đăng H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành. Giao con chung Lê Nguyễn Đăng K, sinh ngày: 14/06/2022 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến lúc trưởng thành.

Tạm hoãn đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho cho anh H và Chị T.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]Về án phí: Anh Lê Đăng H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ tiền tạm ứng án phí mà anh Hiền đã nộp theo biên lai thu, nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006168, ngày 16/06/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Quế Phong.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Thảo

Cỡ chữ