- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trúc K1.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST Ngày 25/9/2023 V/v Ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Dương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Trọng Búp và bà Bùi Thị Thêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Gon Niê – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 83/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023, về “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc K1 sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh V. Bà K1 vắng mặt tại phiên tòa (bà K1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Mạc Tư K sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện M, tỉnh Đ. Ông K vắng mặt tại phiên tòa (ông K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 7 năm 2023 nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Trúc K1 trình bày:
Bà Nguyễn Thị Trúc K1 và ông Mạc Tư K tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 13 tháng 02 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Đ. Quá trình chung sống, bà K1 và ông K phát sinh mâu thuẫn không thể hòa hòa hợp được, nên bà K1 và ông K không còn chung sống với nhau từ năm 2013 đến nay. Do vậy, bà K1 yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà K1 được ly hôn với ông K.
Bà K1 và ông K có một con chung khai sinh là Mạc Bảo V sinh ngày 18 tháng 10 năm 2010, bà K1 đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà K1 có nguyện vọng tiếp tục được trực tiếp nuôi con, bà K1 không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà K1 và ông K không có tài sản chung, nên bà K1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 05 tháng 9 năm 2023, bị đơn là ông Mạc Tư K trình bày:
Ông K và bà K1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Đ vào ngày 13 tháng 02 năm 2012. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Từ năm 2013 đến nay, ông K và bà K1 không còn chung sống với nhau. Ông K đồng ý ly hôn với bà K1.
Ông K và bà K1 có 01 con chung, như bà K1 trình bày. Khi ly hôn, ông K chấp nhận yêu cầu của bà K1, bà K1 trực tiếp nuôi dưỡng con Mạc Bảo V sinh ngày 18 tháng 10 năm 2010.
*Tại biên bản ghi nhận ý kiến của chị Mạc Bảo V ngày 02 tháng 8 năm 2023, chị V trình bày như sau: Chị V là con ông K và bà K1. Hiện nay, chị V đang sinh sống cùng với bà K1. Nếu Tòa án giải quyết cho ông K và bà K1 ly hôn, nguyện vọng của chị V là được tiếp tục được bà K1 nuôi dưỡng.
*Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; Xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; Việc thu thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa, các đương sự chấp hành đúng theo đúng quy định của BLTTDS.
- Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị HĐXX chấp nhận chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho bà K1 được ly hôn với ông K; Giao cho bà K1 nuôi con Mạc Bảo V sinh ngày 18 tháng 10 năm 2010, đến khi con đủ 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. HĐXX nhận định:
. Về tố tụng và quan hệ pháp luật cần giải quyết:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc K1 khởi kiện về việc ly hôn, nuôi con khi ly hôn, đây là tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn ông Mạc Tư K có nơi cư trú tại huyện M’Đrăk, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của BLTTDS. vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn bà K1 và bị đơn ông K có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Nên, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà K1, ông K theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của BLTTDS.
Về nội dung.
Về quan hệ hôn nhân: Bà K1 và ông K tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 13 tháng 02 năm 2012 tại UBND xã CưM’Ta, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk. Quan hệ hôn nhân giữa bà K1 và ông K là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, do tính tình không hợp nhau, nên bà K1 và ông K phát sinh mâu thuẫn và không chung sống với từ năm 2013 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K1, xử cho bà K1 được ly hôn với ông K.
Về con chung: ông K và bà K1 có 01 con chung khai sinh là Mạc Bảo V sinh ngày 18 tháng 10 năm 2010, hiện đang được bà K1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông K và bà K1 đều thống nhất, khi ly hôn bà K1 là người trực tiếp nuôi con. Mặt khác, cháu V cũng có nguyện vọng được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Để đảm bảo quyền và lợi ích của con, HĐXX cần giao con cho bà K1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà K1 không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con, nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung: Ông K và bà K1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: nguyên đơn bà K1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về Hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 220, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trúc K1.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Trúc K1 được ly hôn với ông Mạc Tư K.
2. Về con chung: Giao con Mạc Bảo V sinh ngày 18 tháng 10 năm 2010 cho bà Nguyễn Thị Trúc K1 trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Trúc K1 phải chịu 300.000đồng tiền án phí DSST về Hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng mà bà K1 đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2022/0000504 ngày 06 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M’Đrắk.
4. Thông báo quyền kháng cáo:
Báo cho bà Nguyễn Thị Trúc K1 và ông Mạc Tư K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án HNGĐ-ST trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đắk Lắk; -VKSND huyện M’Đrắk; -Chi cục T.H.A dân sự huyện M’Đrắk; -UBND xã CưM’Ta; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án. | (Đã ký) Nguyễn Thế Dương |