vanban.org

Bản án 21/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị NgọcQ được ly hôn anh Nguyễ nT.

Về nuôi con chung: Giao cả 02 con chung là Nguyễ n Tuấ n Vinh , sinh ngày 05/7/2013 và Nguyễn Khánh Chi , sinh ngà y 03/11/2017 cho chị Nguyễn Thị Ngọc Q trự c tiế p trông nom, chăm só c, nuôi dưỡ ng, giáo dục. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết cho đến khi đương s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quyên - Tuấn Anh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị NgọcQ được ly hôn anh Nguyễ nT.
  • Căn cứ chính? Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST
Ngày 14-4-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trầ n Thà nh Đô

2. Ông Đồng Văn Diện

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang: Ông Vi Đứ c Thứ

- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/02/2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/3/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29/3/2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh năm 1990 - Vắ ng mặ t

Địa chỉ: Thôn Vàng, xã Tiên Lục, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Anh Nguyễ n T, sinh năm 1989 - Vắ ng mặ t

ĐKHKTT: Thôn Vàng, xã Tiên Lục , huyệ n Lạ ng Giang , tỉnh Bắc Giang (Hiệ n nay không rõ đị a chỉ).

(Chị Q có đơn xin vắng mặt, anh Nguyễ n T vắ ng mặ t không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn T trướ c khi kế t hôn đượ c tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký tại UBND xã Trọng Quan , huyệ n Đông Hưng , tỉnh Thái Bình vào ngày 18/12/2012. Anh chị đượ c gia đì nh hai bên tổ chứ c lễ cướ i theo phong tụ c tậ p quá n đị a phương. Sau khi kế t hôn, chị về nhà anh T sinh số ng cù ng gia đì nh nhà chồ ng , thờ i gian đầ u vợ chồ ng chung số ng hoà thuậ n , hạnh phúc. Từ năm 2018, anh T xuấ t khẩ u lao độ ng sang Nhậ t Bả n là m ăn . Từ tháng 5 năm 2022, chị và các con chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Vàng , xã Tiên Lục, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang sinh sống. Đế n thá ng 10 năm 2022, anh Nguyễ n T hế t thờ i hạ n lao độ ng nên trở về Việ t Nam sinh số ng và chuyể

n hộ khẩ u về sinh số ng cù ng chị và cá c con ở tạ i Thôn Và ng

, xã Tiên Lục , huyệ n Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Kể từ khi anh Nguyễ n T về sinh số ng cù ng chị và các con thì do có mâu thuẫn từ đầu năm 2022 nên cuộ c số ng vợ chồng nảy sinh xung độ t. Nguyên nhân mâu thuẫ n là do anh T đi là m nhưng không gử i tiề n về cho vợ con , ham chơi, không chăm lo cho gia đì nh . Sau khi về Việ t Nam sinh số ng cù ng mẹ con chị thì anh T tiế p tụ c rượ u chè , về nhà vợ chồ ng xô xá t thì anh T đá nh chị . Do thấ y chị bị đá nh nên bố mẹ đẻ củ a chị có nó i chuyệ n vớ i anh T nế u vợ chồ ng không ở đượ c thì giả i quyế t ly hôn . Từ thá ng 12 năm 2022 chị và anh T ly thân, nay anh T sinh số ng ở đâu chị không nắ m đượ c , anh T cũng không nó i cho chị là anh đi đâu , làm gì. Nay chị xá c đị nh tì nh cả m vợ chồ ng không cò n, mâu thuẫ n đã trầ m trọ ng, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị đ ược ly hôn anh Nguyễ n T.

Về con chung: Giữa chị và anh T có 02 con chung là Nguyễ n Tuấ n Vinh, sinh ngà y 05/7/2013 và Nguyễn Khánh Chi, sinh ngà y 03/11/2017. Hiệ n nay các con chung đang ở cù ng chị . Khi ly hôn chị đề nghị Toà án giao cả 02 con chung cho chị đượ c trự c tiế p trông nom , chăm só c , nuôi dưỡ ng , giáo dục . Về cấ p dưỡ ng nuôi con chị không yêu cầ u Toà á n giả i quyế t.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có , chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tài liệu chứng cứ thu thập được:

+ Tại biên bản xác minh ngày 20/6/2022 của Toà án với Công an xã Tiên Lục thì thấy: Anh Nguyễ n T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Vàng, xã Tiên Lụ c, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Hiệ n anh T không có mặ t tạ i đị a phương, anh T đi đâu, làm gì địa phương không nắm được, anh T không là m thủ tục khai báo tạm trú tại địa phương nào.

+ Tại Công văn số 671/QLXNC ngày 06/4/2023 của Phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Công an tỉ nh Bắ c Giang cho biết: Anh Nguyễ n T sử dụ ng hộ chiế u nhậ p cả nh 08 lầ n qua Sân bay quố c tế Nộ i Bà i . Nhậ p cả nh lầ n cuố i và o hồ i 13h55p ngày 21/10/2022 qua Sân bay quố c tế Nộ i Bà i , hiệ n chưa có thông tin xuấ t cả nh.

+ Tại biên bản xác minh ngày 24/02/2023 của Toà án với ông Trầ n Khắ c Đệ , Trưở ng thôn Và ng , xã Tiên Lục thể hiện : Chị Q và anh T đăng ký kế t hôn năm 2012. Sau khi kế t hôn , chị Q về nhà anh T ở tỉn h Thá i Bì nh là m dâu . Khoảng cuối năm 2022, anh Nguyễ n T về chung số ng cù ng gia đì nh chị Q tại thôn Và ng , xã Tiên Lục , huyệ n Lạ ng Giang , tỉnh Bắc Giang . Trong quá trì nh chung số ng, vợ chồ ng chị Q và anh T có mâu thuẫ n, nguyên nhân mâu thuẫ n là do anh T ham chơi, không tu chí là m ăn nên vợ chồ ng thườ ng xuyên cã i nhau . Giữ a chị Q và anh T có 02 con chung là Nguyễ n Tuấ n Vinh , sinh năm 2013 và Nguyễ n Khá nh Chi, sinh năm 2017. Nay chị Q làm đơn khởi kiện xin ly hôn và giải quyết về con chung đị a phương đề nghị Toà á n giả i quyế t theo quy đị nh pháp luật.

+ Tại biên bản xác minh ngày 24/02/2023 của Toà án với bà Trần Thị Dụ (mẹ đẻ chị Nguyễn Thị Ngọc Q) thể hiệ n: Năm 2012, chị Q và anh Nguyễn T có đăng ký kế t hôn hợ p phá p , sau khi kế t hôn chị Q về nhà anh T ở Đông Hưng , Thái Bình chung số ng cùng gia đình chồng . Năm 2018, anh Nguyễ n T đi xuấ t khẩ u lao độ ng tạ i Nhậ t Bả n , đến tháng 10 năm 2022 anh T về Việ t Nam và chuyể n hộ khẩ u về thôn Và ng , xã Tiên Lục, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang chung số ng cù ng chị Q, các con và gia đình nhà vợ . Quá trình chung số ng cù ng gia đì nh bà thì giữ a chị Q và anh T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không chị u khó là m ăn, hay đi uố ng rượ u, về nhà đá nh vợ . Nay chị Q và anh T đã ly thân, anh T đi đâu là m gì gia đì nh bà không biế t . Giữ a chị Q và anh T có 02 con chung là Nguyễ n Tuấ n Vinh, sinh năm 2013 và Nguyễn Khánh Chi, sinh năm 2017. Hiệ n nay cả 02 con chung đang ở cù ng chị Q và gia đình bà, các cháu đượ c đi họ c, khoả mạnh, phát triển bình thường. Bà đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy đị nh phá p luậ t.

+ Quá trình giải quyết vụ án

, cháu Nguyễn Tuấn Vinh , sinh ngà y 05/7/2013 có đơn trình bày nguyện vọng được ở cùng mẹ.

- Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự (phát trên VOV2 vào hồi 17h30 ngày 20,21,22/02/2023; đăng thông bá o trên ba số bá o liên tiế p 13,14 và 15 ra cá c ngà y 15,17 và 22/02/2023; đăng thông bá o trên Cổ ng thông tin điệ n tử củ a Toà á n ) đồng thời niêm yế t cá c văn bả n tố tụ ng theo quy đị nh nhưng anh Nguyễ n T vẫn không đến Toà án để làm việc cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tòa án đã mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 24/02/2023 và ngày 13/3/2023 nhưng anh Nguyễ n T vắng mặt không có lý do.

- Ngày 29/3/2023, Tòa án đã mở phiên tòa nhưng anh Nguyễ n T vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Tòa án đã phải hoãn phiên tòa.

- Tại phiên toà hôm nay, bị đơn là anh Nguyễ n T đã được triệu tập hợp lệ nhưng tiếp tục vắng mặt không có lý do. Vì lý do công việc chị Q xin vắng mặt tại phiên tòa.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang phát biểu:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điề u 180, Điều 227, Điều 228, Điề u 235, Điề u 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Q, xử cho chị Q được ly hôn anh Nguyễ n T. Về con chung: Giao cả 02 con chung Nguyễ n Tuấ n Vinh, sinh ngà y 05/7/2013 và Nguyễn Khánh Chi, sinh ngà y 03/11/2017 cho chị Q là người trực tiếp trông nom , chăm só c, nuôi dưỡ ng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, công nợ chung: Do chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị giải quyết về lệ phí , án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

- Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ngọc Q là nguyên đơn làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễ n T, đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn Vàng, xã Tiên Lụ c, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Chị Q yêu cầu giải quyết về nuôi con chung khi ly hôn. Từ các nội dung trên, Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Về thẩm quyền: anh Nguyễ n T hiệ n nay vắng mặt tại địa phương, Tòa án đã xác minh với chính quyền địa phương, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh , Công an tỉ nh Bắ c Giang xác định anh Nguyễ n T nhậ p cả nh lầ n cuố i và o hồ i 13h55p ngày 21/10/2022 qua Sân bay quố c tế Nộ i Bà i , hiệ n chưa có thông tin xuấ t cả nh , hiện nay anh Nguyễ n T đang ở đâu, làm gì gia đình và địa phương không biết. Căn cứ vào khoản 3 Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 277 của Bộ luật dân sự 2015, việc anh Nguyễ n T đã thay đổi nơi cư trú không thông báo cho nguyên đơn cũng như chính quyền địa phương biết về nơi cư trú mới theo quy định nên được coi là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP thấy rằng, địa chỉ cuối cùng của anh Nguyễ n T tại thôn Vàng, xã Tiên Lụ c, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

. Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yế t các văn bản tố tụng của Tòa án tại địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Nguyễ n T nhưng anh Nguyễ n T không đến Tòa án làm việc. Anh Nguyễ n T vắng mặt tại phiên tòa ngày 29/3/2023 và vắng mặt tại phiên tòa hôm nay mà không có lý do. Chị Nguyễn Thị Ngọc Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điề u 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị Q và anh Nguyễn T.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh Nguyễ n T đăng kết hôn ngày 18/12/2012 trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Trọng Quan , huyệ n Đông Hưng , tỉnh Thái Bình và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Hôn nhân giữa chị Q và anh Nguyễ n T là tự nguyện, không vi phạm các điều cấm kết hôn phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Về quá trình chung sống của vợ chồng thì thấy: Căn cứ lờ i khai củ a chị Q và qua xác minh với địa phương và nhân thân thì có căn cứ xác định chị Q và anh T nảy sinh mâu thuẫn từ đầ u năm 2022, nguyên nhân do anh Nguyễ n T đi làm không gửi tiền về cho vợ con , từ thá ng 10/2022 anh T về chung số ng cù ng chị Q thì mâu thuẫ n vợ chồ ng cà ng trầ m trọ ng , anh T ham chơi , rượ u chè về đá nh chị Q. Từ thá ng 12/2022 anh T và chị Q ly thân, anh Nguyễ n T bỏ đi khỏi nhà, không bá o cho g ia đì nh và đị a phương biế t đi đâu , làm gì, không khai bá o tạm trú tại địa phương khác . Tòa án đã thông bá o thờ i gian mở phiên họp kiểm tra việ c giao nộ p tiế p cậ n công khai chứ ng cứ nhưng anh Nguyễ n T không có mặt để tham gia phiên họ p và không có mặt để tham gia các phiên tòa xét xử theo thờ i gian thông bá o củ a Toà á n . Như vậy xác định anh Nguyễ n T không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. HĐXX thấ y tình trạng hôn nhân giữ a chị Q và anh Nguyễn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện xử cho chị Q đượ c ly hôn anh Nguyễ n T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về nuôi con chung, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Q và anh Nguyễ n T có 02 con chung là cháu Nguyễ n Tuấ n Vinh, sinh ngày 05/7/2013 và Nguyễn Khánh Chi , sinh ngà y 03/11/2017, cả 02 con chung đề u đang được chị Q chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay anh Nguyễ n T không rõ địa chỉ ở đâu. Cháu Nguyễn Tuấn Vinh có đơn trình bày nguyện vọng được ở cùng chị Q. Do đó , để đảm bảo ổn định cuộc sống, sinh hoạt của cháu Vinh và cháu Chi cần chấp nhận yêu cầu của chị Q, giao cả 02 cháu Nguyễ n Tuấ n Vinh , sinh ngày 05/7/2013 và Nguyễn Khánh Chi, sinh ngà y 03/11/2017 cho chị Q là người trực tiế p trông nom , chăm só c, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Chị Q không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh Nguyễ n T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung nên Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Q trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và án phí: Căn cứ Điề u 147, khoản 2 Điều 180, Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị Ngọc Q phải chịu toàn bộ lệ phí đăng thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và án phí dân sự sơ thẩm.

.Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điề u 180, Điều 227, Điều 228, Điề u 235, Điề u 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị NgọcQ được ly hôn anh Nguyễ nT.

2. Về nuôi con chung: Giao cả 02 con chung là Nguyễ n Tuấ n Vinh , sinh ngày 05/7/2013 và Nguyễn Khánh Chi , sinh ngà y 03/11/2017 cho chị Nguyễn Thị Ngọc Q trự c tiế p trông nom, chăm só c, nuôi dưỡ ng, giáo dục.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết cho đến khi đương sự có yêu cầu.

Anh Nguyễ n T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

Sau nà y vì lợi ích của con chung, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

3. Về lệ phí, án phí:

- Chị Nguyễn Thị Ngọc Q phải chịu 5.000.000đ (Năm triệ u đồ ng) tiền lệ phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Xác nhận chị Q đã nộp đủ và đã chi phí hết số tiền này.

- Chị Nguyễn Thị Ngọc Q phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị Q đã nộp theo biên lai số 0015015 ngày 06/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị Q đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Ngọc Q, anh Nguyễ n T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Cỡ chữ