vanban.org

Bản án 21/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận anh Hứa Văn Đ và chị Phùng Thị C là vợ chồng.

Giải quyết về con chung: Giao cháu Hứa Minh H, sinh năm 2005 cho chị Phùng Thị C trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng cho đến trưởng thành. Sau khi ly hôn, chị Phùng Thị C cùng các thành viên trong gia đình phải tạo điều kiện cho anh Hứa Văn Đ được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con theo quy định của ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tuyên bố không công nhận anh Hứa Văn Đ và chị Phùng Thị C là vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận anh Hứa Văn Đ và chị Phùng Thị C là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG PHÚ
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28/3/2023
Về việc: “Không công nhận quan hệ
vợ chồng, giải quyết về con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ- TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đăng Thường

Bà Nguyễn Thị Tiên

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thao – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 253/2022/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/02/2023, giữa:

* Nguyên đơn: Anh Hứa Văn Đ, sinh năm 1982

* Bị đơn: Chị Phùng Thị C, sinh năm 1980

Địa chỉ: ấp Bù Xăng, xã Thuận Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Quá trình giải quyết vụ án, anh Hứa Văn Đ trình bày:

Quan hệ hôn nhân: Anh Hứa Văn Đ và chị Phùng Thị C chung sống với nhau năm 2000, hôn nhân tự nguyện, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống hai vợ chồng sống hạnh phúc trong thời gian ngắn sau đó mâu thuẫn thường xuyên xảy ra. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên giữa hai người thường xuyên mâu thuẫn. Nay anh Hứa Văn Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình trở nên trầm trọng nên anh Hứa Văn Đ yêu cầu được ly hôn với chị Phùng Thị C.

Về giải quyết con chung, cấp dưỡng nuôi con: Trong thời gian chung sống anh Hứa Văn Đ, chị Phùng Thị C sinh được 02 người con chung là: Cháu Hứa Thanh Th, sinh năm 2002 và Hứa Minh H, sinh năm 2005. Khi ly hôn, anh Hứa Văn Đ đồng ý giao cháu Hứa Minh H cho chị Phùng Thị C nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu;

Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, và các khoản nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Phùng Thị C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không đến Tòa án làm việc, cung cấp ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước có ý kiến như sau:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và các đương sự đã tuân thủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Hứa Văn Đ, tuyên bố không công nhận anh Hứa Văn Đ và chị Phùng Thị C là vợ chồng; giao con chung là cháu Hứa Minh H, sinh năm 2005 cho chị Phùng Thị C trực tiếp, chăm nom nuôi dưỡng; cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung: không xem xét giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự, kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Quan hệ hôn nhân: Anh Hứa Văn Đ và chị Phùng Thị C chung sống với nhau tự nguyện vào năm 2000, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Xét thấy, anh Hứa Văn Đ và chị Phùng Thị C có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa chị Phùng Thị C và anh Hứa Văn Đ không được pháp luật thừa nhận. Xét cần áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận anh Hứa Văn Đ và chị Phùng Thị C là vợ chồng là phù hợp.

Giải quyết về con chung: Trong thời gian chung sống anh Hứa Văn Đ, chị Phùng Thị C sinh được 02 người con chung là: Cháu Hứa Thanh Th, sinh năm 2002 và Hứa Minh H, sinh năm 2005. Khi ly hôn, anh Hứa Văn Đ đề nghị Tòa án giao cháu Hứa Minh H cho chị Phùng Thị C nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu; đề nghị trên đây của anh Hứa Văn Đ là phù hợp với nguyện vọng của cháu Hứa Minh H nên được ghi nhận. Căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cháu Hứa Minh H cho chị Phùng Thị C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.

Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viên kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Quá trình giải quyết vụ án, anh Hứa Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Phùng Thị C được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, áp dụng Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Hứa Văn Đ, chị Phùng Thị C.

Án phí hôn nhân sơ thẩm các bên phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 147; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận anh Hứa Văn Đ và chị Phùng Thị C là vợ chồng.

2. Giải quyết về con chung: Giao cháu Hứa Minh H, sinh năm 2005 cho chị Phùng Thị C trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng cho đến trưởng thành.

Sau khi ly hôn, chị Phùng Thị C cùng các thành viên trong gia đình phải tạo điều kiện cho anh Hứa Văn Đ được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con theo quy định của pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó; cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và các vấn đề khác: Không xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.

4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Hứa Văn Đ phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 019091 ngày 08/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Anh Hứa Văn Đ, chị Phùng Thị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ