vanban.org

Bản án 21/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngọc - Tiến"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23-6-2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G

- Thành phần Hô ̣i đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Chín;

2. Ông Lê Văn Do.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2023/QDDST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn 1, xã Đak Krong, huyện Đ, tỉnh G. (Vắng mặt theo đơn xin xét xử vắng mặt);

- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn 76, xã Hà Bầu, huyện Đ, tỉnh G. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/11/2022; bản tự khai ngày 11/4/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Hồng N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã Hà Bầu, huyện Đ, tỉnh G vào ngày 20/01/2016. Quá trình chung sống giữa chị và anh T thường xuyên bất đồng quan điểm xảy ra cãi vã, anh T thường xuyên đánh đập chị dẫn đến cuộc hôn nhân không có hạnh phúc. Do mâu thuẫn căng thẳng chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 2/2021 đến nay. Xét thấy tình cảm đã hết không thể hàn gắn được nữa chị yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Văn T.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị và anh Trần Văn T có 01 con chung là Trần Thị Trúc Nh, sinh ngày 19/10/2016. Từ khi ly thân đến nay cháu Trần Thị Trúc Nh sống cùng với anh T tại thôn 76, xã Hà Bầu, huyện Đ, tỉnh G. Ly hôn chị N yêu cầu giao con chug là Trần Thị Trúc Nh, sinh ngày 19/10/2016 cho anh T nuôi dưỡng, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản riêng, tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã T hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với bị đơn anh Trần Văn T. Tuy nhiên, anh Trần Văn T không đến Tòa án để cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do vậy, anh Trần Văn T không có lời khai tại hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa: Chị Nguyễn Thị Hồng N có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Tại phiên tòa đại diện kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thu lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Người tham gia tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng N đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Đối với bị đơn anh Trần Văn T đã được triệu tập hợp lệ Nhng vẫn vắng mặt tại phiên toà nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Hồng N vì điều kiện công việc nên có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị N là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Chị N phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ tòan diện các chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Hồng N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Văn T. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự thì tranh chấp này thuộc thẩm quyển của Tòa án nhân dân cấp huyện vì bị đơn là anh Trần Văn T có hộ khẩu thường trú tại Thôn 76, xã Hà Bầu, huyện Đ, tỉnh G. Do vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G có thẩm quyền thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn anh Trần Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa Nhng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án T hành xét xử vắng mặt bị đơn. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng N có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị N.

Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Trần Văn T chung sống với nhau đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Hà Bầu, huyện Đ, tỉnh G ngày 25/6/2014, chị N và anh T kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống giữa chị và anh T đã có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên bất đồng quan điểm đã xảy ra mâu thuẫn cãi vã. Lý do anh T thường xuyên đánh đập chi N dẫn đến cuộc hôn nhân không có hạnh phúc. Chị N và anh T đã sống ly thân từ tháng 2/2021 đến nay. Nay chị N nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, cũng không thể sống chung được nữa. Nên chị N yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Văn T.

Xét nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Trần Văn T là do tính cách hai vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra bất đồng cãi vả. Mặt khác chị N cho rằng anh T thường xuyên đánh đập chị N dẫn đến cuộc hôn nhân không có hạnh phúc. Vì vậy chị N và anh T đã sống ly thân từ tháng 2/2021 đến nay, quá trình hòa giải tại Tòa án chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn anh T. Tòa án cũng đã triệu tập anh T để T hành hòa giải cho hai vợ chồng đoàn tụ với nhau và để giải quyết vụ án Nhng anh T không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Nh vậy, anh T đã không còn yêu thương đối với chị N và không quan tâm đến tình cảm vợ chồng cũng Nh việc xây dựng, hàn gắn tổ ấm gia đình.

Tại biên bản xác minh ngày 12/4/2023 tại thôn 76, xã Hà Bầu, huyện Đ, tỉnh G thể hiện: Chị N và anh T có cư trú tại thôn 76, xã Hà Bầu, huyện Đ, tỉnh G, hiện chị N đã chuyển về sống tại Thôn 1, xã Đak Krong, huyện Đ, hiện chỉ còn anh T và con chung của anh T và chị N là Trần Thị Trúc Nh, sinh ngày 19/10/2016 hiện đang sinh sống tại Thôn 76, xã Hà Bầu. Về nguyên nhân mâu thuẫn thì chị N và anh T không báo cáo với chính quyền địa phương nên địa phương không nắm được.

Từ nhận định trên thấy rằng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng N là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Trần Văn T có 01 con chung là Trần Thị Trúc Nh, sinh ngày 19/10/2016, quá trình sống ly thân cho đến nay cháu Nh đang sống cùng anh T, ly hôn chị N yêu cầu giao con Trần Thị Trúc Nh, sinh ngày 19/10/2016 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét, con chung là Trần Thị Trúc Nh, sinh ngày 19/10/2016 đang sống cùng với anh Trần Văn T tại thôn 76, xã Hà Bầu, huyện Đ, tỉnh G ổn định cho đến nay. Anh T không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung đối với chị N.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị N phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp đến phát triển ổn định của con chung là Trần Thị Trúc Nh nên giao con chung Trần Thị Trúc Nh cho anh T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung Trần Thị Trúc Nh đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân mình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh T không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị N, nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Về tài sản riêng, tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị Nguyễn Thị Hồng N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng N là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 110 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 5, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng N đối với anh Trần Văn T.

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn anh Trần Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung Trần Thị Trúc Nh, sinh ngày 19/10/2016, cho anh Trần Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung Trần Thị Trúc Nh đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân mình.

Chị Nguyễn Thị Hồng N không phải cấp dưỡng nuôi con chung Trần Thị Trúc Nh, sinh ngày 19/10/2016 cho anh Trần Văn T.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), Nhng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0009885 ngày 11 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh G.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng N và bị đơn anh Trần Văn T vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án nhân dân tỉnh G;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Đ;

- Chi cục THADS huyện Đ;

- Các đương sự;

- UBND xã Hà Bầu, huyện Đ, tỉnh G số 37 vào ngày 20/01/2016;

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thị Hoài Thơ TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN Đ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH G Số:16/2023/QĐST-HNGĐ

Đ, ngày 09 tháng 6 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

HOÃN PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Chín

2. Ông Lê Văn Do

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Bình- Kiểm sát viên.

Đã T hành mở phiên họp sơ thẩm xét xử vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 57/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:18/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2023.

Xét thấy: Bị đơn anh Trần Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất Nhng vắng mặt không có lý do.

Căn cứ vào các Điều 227 ,233,235 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐINH:

1.Hoãn phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 57/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023.

2. Thời gian mở lại phiên tòa mở lại vào lúc 08 giờ 30 ngày 23 tháng 6 năm 2023.

Địa điểm mở lại phiên tòa: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G.

Cỡ chữ