- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Đình T: Xác định anh Trần Đình T; sinh năm 1978; Nơi cư trú: Khối 10, phường L, T phố Vinh, tỉnh Nghệ An là cha đẻ của cháu Trần Lam Chi; sinh ngày: 01/5/2021; Địa chỉ: Khối 10, phường L, T phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20-3-2023 V/v: Tranh chấp về xác định cha cho con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân Oanh - Ông Nguyễn Công Thẩm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bình, Thư ký Tòa án nhân dân T phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2023 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân T phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 416/2022/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2022, về tranh chấp Xác định cha cho con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/02/2023 và quyết định hoãn phiên toà số 15/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03/3/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Đình T; Sinh năm: 1978; Cư trú tại: Khối 10, phường L, T phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Chị Lương Thị L1; Sinh năm: 1993; Cư trú tại: Khối 10, phường L, T phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Minh T1; Sinh năm: 1984; Nơi ĐKHKTT: Thôn Mâng, xã Kim Ngọc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong "Đơn khởi kiện" đề ngày 14/10/2022, Bản tự khai ngày 14/02/2023, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, anh Trần Đình T là nguyên đơn trình bày:
Năm 2019 anh và chị Lương Thị L1 có mối quan hệ tình cảm với nhau. Đến ngày 01/5/2021, chị L1 đã sinh con gái và dự định đặt tên con là Trần Lam Chi, nơi sinh là bệnh viện sản nhi tỉnh Yên Bái. Tuy nhiên, thời điểm chị L1 sinh con thì chị L1 và anh Nguyễn Minh T1 vẫn còn quan hệ hôn nhân với nhau. Sau khi sinh cháu, vì không phải con chung của chị L1 và anh T1 nên cháu chưa được đăng ký khai sinh. Theo Kết quả phân tích ADN ngày 09/7/2022 của Công ty TNHH đầu T1 và công nghệ Genplus đã kết luận anh Trần Đình T và cháu Trần Lam Chi (tên dự kiến sinh) có quan hệ huyết thống cha con. Mặc dù đã có giám định gen xác định anh Trần Đình T là bố của Trần Lam Chi tuy nhiên do cháu Chi sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa chị L1 và anh Nguyễn Minh T1 nên hiện nay làm thủ tục khai sinh cho cháu gặp khó khăn. Vì vậy, để làm được giấy khai sinh cho cháu nên anh khởi kiện yêu cầu Toà án xác định anh Trần Đình T, sinh năm: 1978; Nơi ĐKHKTT: Khối 10, phường L, T phố Vinh, tỉnh Nghệ An là cha đẻ của cháu Trần Lam Chi, sinh ngày: 01/5/2021.
Tại Bản tự khai ngày 14/02/2023, và tại phiên toà hôm nay bị đơn là chị Lương Thị L1 trình bày: Năm 2019 chị Lương Thị L1 và anh Trần Đình T có mối quan hệ tình cảm với nhau. Đến ngày 01/5/2021, chị L1 đã sinh con gái và dự định đặt tên con là Trần Lam Chi, nơi sinh là bệnh viện sản nhi tỉnh Yên Bái. Tuy nhiên, thời điểm chị L1 sinh con thì chị L1 và anh Nguyễn Minh T1 vẫn còn quan hệ hôn nhân với nhau. Đến ngày 07/02/2022 chị và anh Nguyễn Minh T1 đã thuận tình ly hôn, tại phần nuôi con chung của quyết định thuận tình ly hôn số 05/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07/02/2022 của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, Hà Giang thì do cháu Trần Lam Chi không phải con của anh Nguyễn Minh T1 nên anh chị đã thống nhất không đưa cháu vào để giải quyết trong vụ án Hôn nhân và gia đình. Theo Kết quả phân tích ADN ngày 09/7/2022 của Công ty TNHH đầu T1 và công nghệ Genplus đã kết luận anh Trần Đình T và cháu Trần Lam Chi (tên dự kiến sinh) có quan hệ huyết thống cha con. Vì vậy, hiện nay anh T làm đơn khởi kiện yêu cầu xác định anh là cha đẻ của cháu Trần Lam Chi thì chị đồng ý, đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T.
Toà án đã tống đạt hợp L1 các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Minh T1. Tuy nhiên, anh T1 không đến Toà án để làm việc. Vì vậy, Toà án không thể lấy lời khai của anh T1 và không tiến hành hoà giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc:
- Tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 BLTTDS; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 BLTTDS; xác định đúng T1 cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định tại Điều 70,73 BLTTDS
- Về việc giải quyết vụ án: áp dụng Điều 88, 90, 101 và 102 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Đình T, xác định anh Trần Đình T là cha đẻ của cháu Trần Lam Chi; sinh ngày 01/5/2021.
Về án phí: Đề nghị miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho anh Trần Đình T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn trong vụ án là chị Lương Thị L1 có nơi cư trú tại Khối 10, phường L, T phố Vinh nên Tòa án nhân dân T phố Vinh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa, anh Nguyễn Minh T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp L1 nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T1.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Đình T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại phiên tòa, anh Trần Đình T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xác định anh là cha đẻ của cháu Trần Lam Chi. Tại các bản tự khai, chị Lương Thị L1 cũng đều thừa nhận trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Lương Thị L1 và anh Nguyễn Minh T1 thì chị L1 đã sinh ra cháu Trần Lam Chi; sinh ngày: 01/5/2021. Căn cứ vào Kết quả phân tích ADN ngày 09/7/2022 của Công ty TNHH đầu T1 và công nghệ Genplus đã kết luận anh Trần Đình T và cháu Trần Lam Chi (tên dự kiến sinh) có quan hệ huyết thống cha con. Do đó, việc anh Trần Đình T khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu Trần Lam Chi là có cơ sở, phù hợp với quy định tại điều 39 Bộ luật dân sự; Điều 88, 90, 101 và 102 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T.
. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của anh Trần Đình T là xác định cha cho con chưa T niên nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L1 phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 39 Bộ luật dân sự; Điều 88, 90, 101 và 102 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L1 phí Tòa án;
1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Đình T: Xác định anh Trần Đình T; sinh năm 1978; Nơi cư trú: Khối 10, phường L, T phố Vinh, tỉnh Nghệ An là cha đẻ của cháu Trần Lam Chi; sinh ngày: 01/5/2021; Địa chỉ: Khối 10, phường L, T phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
2. Chị Lương Thị L1 và anh Trần Đình T có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cải chính hộ tịch và thực hiện các quyền về lý lịch T1 pháp khác cho cháu Trần Lam Chi theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Anh Trần Đình T là người khởi kiện xác định cha cho con chưa T niên nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp L1.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An - VKSND TP. Vinh - Chi cục THADS TP. Vinh - UBND p. L -Các đương sự - Lưu hồ sơ | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Minh Hiền |