vanban.org

Bản án 21/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Hồng L về việc thay đổi quyền nuôi dưỡng đối với cháu Ngô Ánh Dương.

Về án phí: Anh L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh L đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001387 ngày 25/4/2023 của Chi cục THADS thị xã Quế Võ. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Hồng L về việc thay đổi quyền nuôi dưỡng đối với cháu Ngô Ánh Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21/6/2023
V/v: Tranh chấp về thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi
ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Minh Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phú

Bà Nguyễn Thị Huệ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thứ – Thư ký TAND thị xã Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Xuân Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 26/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Ngô Hồng L, sinh năm 1987; Địa chỉ: thôn Long Khê, xã Ngọc Xá, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Trần Thị Bích T, sinh năm 1990; Địa chỉ: thôn Đông Du, xã Đào Viên, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn là anh Ngô Hồng L trình bày:

Anh L và chị Trần Thị Bích T kết hôn với nhau từ năm 2016, vợ chồng có 02 con chung là Ngô Ánh Dương, sinh ngày 13/9/2016 và Ngô Chí Thanh, sinh ngày 23/4/2018. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nên anh chị đã được TAND huyện Quế Võ giải quyết cho ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 160/2021/QĐST-HNGĐ ngày 31/8/2021. Theo Quyết định này thì anh L được nuôi cháu Thanh, còn chị T nuôi cháu Dương. Từ trước khi giải quyết ly hôn thì hai con vẫn ở với anh L, còn chị T về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Đông Du, xã Đào Viên, thị xã Quế Võ để ở. Sau khi ly hôn thì chị T chỉ thỉnh thoảng đón cháu Dương về chơi vài ngày, rồi lại mang trả cháu cho anh L nuôi. Một thời gian sau thì chị T bỏ đi nước ngoài, trong thời gian này cháu Dương vẫn ở với anh L. Khoảng cuối tháng 2/2023 chị T mới đón cháu Dương về nuôi, và chuyển trường cho cháu về học tại xã Đào Viên. Đến nay, mặc dù chị T không có hành vi ngược đãi cháu Dương, nhưng anh L thấy chị T không có điều kiện nuôi con tốt bằng anh, vì khi ở với anh còn có bố mẹ anh hỗ trợ cùng chăm sóc các con. Do đó, anh L đề nghị Tòa án cho anh được nuôi cháu Ngô Ánh Dương, vấn đề cấp dưỡng nuôi con anh L không yêu cầu giải quyết. Hiện nay anh L đang ở cùng nhà với bố mẹ tại thôn Long Khê, xã Ngọc Xá, thị xã Quế Võ, và đang làm bưu tá thu nhập trung bình khoảng 8,6 triệu đồng/tháng.

* Bị đơn là chị Trần Thị Bích T trình bày:

Chị T và anh L đã được TAND thị xã Quế Võ giải quyết cho ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 160/2021/QĐST-HNGĐ ngày 31/8/2021. Theo Quyết định này thì chị T được nuôi cháu Dương, còn anh L được nuôi cháu Thanh. Trước khi ly hôn vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ khoảng tháng 8/2019, chị T có mang 02 con về nhà bố mẹ đẻ tại thôn Đông Du, xã Đào Viên, thị xã Quế Võ để ở. Sau khi ly hôn thì anh L không đón cháu Thanh về nuôi mà cả 02 con vẫn ở với chị T, còn anh L thường xuyên quấy rối cuộc sống và công việc của chị. Đến tháng 3/2022 do không chịu đựng được việc bị anh L quấy rối, nên chị T có làm thủ tục sang Đài Loan để làm việc. Chị T đã gửi 02 con lại cho bố mẹ đẻ chị nuôi, nhưng cuối tháng 3/2022 do khi đó em gái chị T cưới chồng nên bố mẹ chị có gửi anh L 02 con để lo công việc, tuy nhiên sau khi xong việc thì anh L không cho bố mẹ chị đón lại các cháu. Đến tháng 7/2022 chị T về Việt Nam, nhưng anh L cản trở không cho chị gặp con. Đầu tháng 8/2022 chị T mới đón được 02 con về, khi đó cháu Dương mới vào học lớp 1 ở trường Ngọc Xá nên chị chưa chuyển trường cho cháu. Chị T và anh L vẫn thay phiên nhau đưa đón cháu Dương đi học (cháu Dương ở với anh L từ thứ 2 đến thứ 6, còn thứ 7 và chủ nhật ở với chị T), còn cháu Thanh thì vẫn ở với chị T. Trong thời gian này anh L vẫn liên tục quấy rối cuộc sống và công việc của chị T, nhiều lần chặn đường chửi bới, xúc phạm, đánh đập chị. Đến tháng 02/2023 khi cô giáo thông báo việc cháu Dương có biểu hiện phát triển không bình thường, hạn chế giao tiếp thì chị T đã đón cháu Dương về ở hẳn với chị, và chuyển cháu về học tại trường Đào Viên gần nhà. Đến tháng 4/2023 anh L đón cháu Thanh về nuôi. Trong suốt thời gian nuôi con chị T luôn chăm sóc các con chu đáo, không có hành vi ngược đãi con. Nay anh L yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con đối với cháu Dương thì chị không đồng ý. Chị T hiện nay đang làm hành chính tại Công ty Dongjie Việt Nam thuộc KCN Châu Phong, thu nhập trung bình khoảng 20 triệu đồng/tháng. Chị T đang ở cùng nhà với bố mẹ tại thôn Đông Du, xã Đào Viên, bố mẹ chị còn khỏe mạnh nên chị có đầy đủ điều kiện để chăm sóc con. Còn anh L hiện đang nuôi cháu Thanh, công việc của anh L không ổn định lại đang có nợ nần nhiều chỗ nên không thể đủ điều kiện để nuôi cả 02 con.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự đã tuân thủ đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147, 186, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Hồng L về việc thay đổi quyền nuôi dưỡng đối với cháu Ngô Ánh Dương.

- Về án phí: Anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng: Anh Ngô Hồng L khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với chị Trần Thị Bích T có địa chỉ tại thôn Đông Du, xã Đào Viên, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Quế Võ.

Anh Ngô Hồng L và chị Trần Thị Bích T có 02 con chung là Ngô Ánh Dương, sinh ngày 13/9/2016 và Ngô Chí Thanh, sinh ngày 23/4/2018. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 160/2021/QĐST-HNGĐ ngày 31/8/2021 TAND huyện Quế Võ đã giao cho anh L được nuôi cháu Thanh, còn giao cho chị T nuôi cháu Dương. Sau khi giải quyết ly hôn, theo anh L trình bày thì chị T chỉ thỉnh thoảng mới đón cháu Dương về chơi vài ngày, rồi lại mang trả cháu cho anh L nuôi. Một thời gian sau thì chị T bỏ đi nước ngoài, trong thời gian này cháu Dương vẫn ở với anh L. Khoảng cuối tháng 2/2023 chị T mới đón cháu Dương về nuôi, và chuyển trường cho cháu Dương về học tại xã Đào Viên. Còn chị T cho rằng sau khi ly hôn thì anh L không đón cháu Thanh về nuôi mà cả 02 con vẫn ở với chị T, thời gian này anh L thường xuyên quấy rối cuộc sống và công việc của chị. Đến tháng 3/2022 do không chịu đựng được việc bị anh L quấy rối, nên chị T có làm thủ tục sang Đài Loan để làm việc. Chị T đã gửi 02 con lại cho bố mẹ đẻ chị nuôi, nhưng cuối tháng 3/2022 do khi đó em gái chị T cưới chồng nên bố mẹ chị có gửi anh L 02 con để lo công việc, tuy nhiên sau khi xong việc thì anh L không cho bố mẹ chị đón lại các cháu. Tháng 7/2022 chị T trở về Việt Nam nhưng anh L cản trở không cho chị gặp con, đến đầu tháng 8/2022 chị T mới đón được 02 con về. Tuy nhiên, bản thân anh L và chị T đều khẳng định chị T trong thời gian nuôi cháu Dương không có hành vi ngược đãi cháu. Hội đồng xét xử thấy rằng, anh L và chị T mỗi người đang nuôi 01 con chung, chị T hiện ở với bố mẹ đẻ tại thôn Đông Du, xã Đào Viên, còn anh L ở với bố mẹ đẻ tại thôn Long Khê, xã Ngọc Xá. Anh L, chị T đều có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, có đủ khả năng để nuôi con. Đến nay anh L không đưa ra được chứng cứ gì chứng minh chị T không đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Dương. Xét thấy, việc anh L nuôi cháu Thanh, còn chị T nuôi cháu Dương vẫn bảo đảm cho sự phát triển về thể chất và tinh thần cho các cháu, nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của anh L.

Về án phí: Anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147, 186, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Hồng L về việc thay đổi quyền nuôi dưỡng đối với cháu Ngô Ánh Dương.

2. Về án phí: Anh L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh L đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001387 ngày 25/4/2023 của Chi cục THADS thị xã Quế Võ.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ