vanban.org

Bản án 21/2023/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Phương L.

Cụ thể tuyên: Chị Nguyễn Phương L được ly hôn với anh Nguyễn Khắc D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ hôn nhân gia đình giữa chị Nguyễn Phương L và anh Nguyễn Khắc D"
  • Tòa quyết gì? Tuyên: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Phương L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 21/2023/HN-ST
Ngày: 23-02-2023
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình
về ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Đấu

2. Ông Phan Văn Sơn

- Thư k Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Thu

Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lanh – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 387/2022/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 12 năm 2022, về: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXX-ST ngày 14 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Phương L, sinh năm 1997; Hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Địa chỉ liên lạc: số 01 đường N, khu phố T, phường T1, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc D, sinh năm 1991; Địa chỉ cư trú: ấp A, xã B, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Chị L có mặt, anh D vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn đề ngày 18/8/2022, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, chị Nguyễn Phương L trình bày:

1. Về hôn nhân: Chị xin ly hôn với anh Nguyễn Khắc D. Lý do: Chị và anh Nguyễn Khắc D do tìm hiểu tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B (nay là xã B1) cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 02/11/2016. Quá trình sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do thường hay cự cãi nhau, xảy ra xô sát. Anh D uống rượu, về nhà thường hay đánh chị. Vợ chồng không có công việc ổn định, không có kinh tế để lo cho cuộc sống do cưới nhau khi còn nhỏ tuổi. Anh D hứa thay đổi nhiều lần nhưng không thay đổi được. Vợ chồng không còn sống chung từ khi con 15 tháng tuổi cho đến nay. Nay tình cảm đã không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng nên quyết định ly hôn.

2. Về con chung: Nguyễn Gia T, sinh ngày 16/12/2016, đang sống chung với chị, khi ly hôn chị yêu cầu trực tiếp nuôi con, chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung của vợ chồng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung của vợ chồng: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Khắc D lời trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 10/01/2023:

Chị L xin ly hôn, anh đồng ý do xác định tình cảm không còn. Trước đây, sau khi cưới khoảng 02 năm, chị L nói là xin đi chơi nhưng sau đó ở ngoài Bình Dương làm việc. Lúc đi có dẫn con theo, đến nay khoảng 03 năm. Trong thời gian này, anh có ra thăm con và hàn gắn nhưng không thành. Trước khi chị L đi Bình Dương, đã đi Cần Thơ 01 lần, anh có rướt về, sau đó đi nữa nên anh không rướt về nữa.

Về con chung là Nguyễn Gia T, sinh ngày 16/12/2016, đang sống chung với chị L, đang học lớp 1 ở Bình Dương. Anh đồng ý để chị L trực tiếp nuôi, anh không cấp dưỡng. Nếu có tiền bao nhiêu thì anh sẽ cho con bấy nhiều.

Về tài sản chung của vợ chồng và nợ chung của vợ chồng: Không có.

Xin vắng mặt các lần Tòa án triệu tập.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu cho rằng:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng như đương sự nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị xem xét: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Phương L; Con chung: Nguyễn Gia T, sinh ngày 16/12/2016, để chị L trực tiếp nuôi con, ghi nhận chị L không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung: Chị L và anh D trình bày không có, không yêu cầu; Nợ chung của vợ chồng: Chị L và anh D bày không có, không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[ 1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Căn cứ vào đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Phương L, Hội đồng xét xử xác định vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung”; Trong đó xác định chị Nguyễn Phương L là nguyên đơn, anh Nguyễn Khắc D là bị đơn; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét việc vắng mặt của anh Nguyễn Khắc D có đơn xin vắng, có lý do, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh D là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung giải quyết vụ án:

1. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Phương L, thấy rằng:

Tại tòa, chị L vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh D.

Anh D cũng đồng ý ly hôn vì cho rằng vợ chồng không còn tình cảm nhưng không đến Tòa án.

Khi thực hiện xác minh, chính quyền địa phương cho biết thông tin: Hôn nhân của anh D và chị L có tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán tại địa phương và có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, vợ chồng sống bên anh D đến khi chị L sinh con. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, địa phương không nắm được do không nhận được đơn yêu cầu hòa giải của anh D và chị L.

Thấy rằng mục đích hôn nhân là để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; trong quá trình sống chung vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh D là có thật. Nguyên nhân bắt nguồn từ mâu thuẫn về việc chị L cho rằng quá trình sống chung vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Vợ chồng cưới nhau khi còn nhỏ tuổi, không có công việc ổn định, không có thu nhập để lo cho cuộc sống. Chị L cho rằng anh D thường uống rượu và về đánh chị, hứa thay đổi, lo làm ăn để lo cho vợ con nhưng không thay đổi nên chị phải đi làm để có tiền lo cho con. Vợ chồng không còn sống chung một thời gian dài. Trong thời gian này vợ chồng cũng không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã tạo điều kiện triệu tập để cho vợ chồng hòa giải đoàn tụ nhưng anh D vắng mặt không đến Tòa nên không thể tiến hành hòa giải được. Xét khả năng hàn gắn đoàn tụ là không thể, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân đã không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.

2. Về con chung: Nguyễn Gia T, sinh ngày 16/12/2016 hiện đang sống với chị L. Chị L đề nghị được trực tiếp nuôi con. Thấy rằng từ khi sinh ra con đã sống cùng với chị L, đã quen với điều kiện sinh sống và học tập. Anh D cũng đồng ý để chị L nuôi con. Do đó, để chị L trực tiếp nuôi con khi ly hôn là phù hợp. Chị L không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Sau khi ly hôn, cha, mẹ đều có quyền, nghĩa vụ đối với con chung chưa thành niên theo quy định tại Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Phương L và anh Nguyễn Khắc D cùng trình bày không có, không yêu cầu, không giải quyết.

4. Về nợ chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Phương L và anh Nguyễn Khắc D cùng trình bày không có, không giải quyết.

[3]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Án phí dân sự không có giá ngạch đối với yêu cầu xin ly hôn, chị L chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Phương L.

Cụ thể tuyên:

1. Chị Nguyễn Phương L được ly hôn với anh Nguyễn Khắc D.

2. Về con chung: Nguyễn Gia T, sinh ngày 16/12/2016. Khi ly hôn, chị Nguyễn Phương L được trực tiếp nuôi con. Ghi nhận chị Nguyễn Phương L không yêu cầu anh Nguyễn Khắc D cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; trên cở sở lợi ích của con, cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có căn cứ theo quy định tại Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Phương L và anh Nguyễn Khắc D cùng trình bày không có, không yêu cầu, không giải quyết.

4. Về nợ chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Phương L và anh Nguyễn Khắc D cùng trình bày không có, không giải quyết.

Các đương sự không có yêu cầu nào khác, không xem xét.

5. Về án phí dân sự không có giá ngạch: Đối với yêu cầu ly hôn: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn), chị Nguyễn Phương L phải chịu. Được khấu trừ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00091081 ngày 15 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ