vanban.org

Bản án 21/2023/HN&GĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị U.

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố bà Trần Thị U và ông Nguyễn Thành C không phải là vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị U - Nguyễn Thành C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị U.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số: 21/2023/HN&GĐ-ST
Ngày: 30/3/2023.
“V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

--------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Đình Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha, ông Nguyễn Văn Được.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Hùng Thái – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huê - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 3 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 289/2022/TLST-HN&GĐ ngày 21 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:

Bà Trần Thị U - Sinh năm: 1966 (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: Khu phố Phú Thanh, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

* Bị đơn:

Ông Nguyễn Thành C - Sinh năm: 1966 (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: Khu phố Phú Thanh, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt, nguyên đơn bà Trần Thị U trình bày:

Bà Trần Thị U và ông Nguyễn Thành C đã tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1985 có tổ chức đám cưới nhưng không làm giấy đăng ký kết hôn. Việc chung sống giữa bà U với ông C là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc ai.

Bà U và ông C chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2021 thì giữa bà U và ông C bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống.

Xét thấy tình cảm giữa bà U và ông C không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, nay bà U yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà U được ly hôn với ông Nguyễn Thành C.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Trần Thị U và ông Nguyễn Thành C có 05 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Linh – Sinh năm: 1985, Nguyễn Thị Ngọc Ngà – Sinh năm: 1987, Nguyễn Thị Ngọc Thủy – Sinh năm: 1990, Nguyễn Thị Ngọc Tiên – Sinh năm: 1997 và Nguyễn Thị Thu Hiền – Sinh năm: 2000. Hiện các con chung của bà U và ông C đều đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên bà U không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị U không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo bản tự khai, đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Thành C trình bày:

Ông Nguyễn Thành C và bà Trần Thị U đã tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1985 có tổ chức đám cưới nhưng không làm giấy đăng ký kết hôn. Việc chung sống giữa ông C với bà Trần Thị U là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc ai.

Ông C và bà U chung sống hạnh phúc được một thời gian, đên năm 2021 thì giữa ông C và bà Trần Thị U phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bà Trần Thị U đã có tuổi nên hay cáu gắt, khó chịu. Nay bà Trần Thị U làm đơn xin ly hôn với ông C thì ông C không đồng ý vì mâu thuẫn không có gì lớn.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, ông Nguyễn Thành C và bà Trần Thị U có 05 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Linh – Sinh năm: 1985, Nguyễn Thị Ngọc Ngà – Sinh năm: 1987, Nguyễn Thị Ngọc Thủy – Sinh năm: 1990, Nguyễn Thị Ngọc Tiên – Sinh năm: 1997 và Nguyễn Thị Thu Hiền – Sinh năm: 2000. Hiện các con chung của ông C và bà U đều đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Thành C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng khác đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 9; Điều 11; Điều 12; Điều 14; Điều 81và Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Áp dụng khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Áp dụng Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị U. Tuyên bố bà Trần Thị U và ông Nguyễn Thành C không phải là vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng:

Xác định đây là vụ án “Ly hôn” do bà Trần Thị U đứng đơn khởi kiện, bị đơn là ông Nguyễn Thành C có địa chỉ cư trú tại khu phố Phú Thanh, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự:

Nguyên đơn bà Trần Thị U và bị đơn ông Nguyễn Thành C vắng mặt tại phiên tòa nhưng bà U và ông C đều có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà U và ông C theo thủ tục chung.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Trần Thị U và ông Nguyễn Thành C đều thừa nhận là đã tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1985 cho đến nay nhưng vẫn chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Bà U và ông C chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì giữa bà U và ông C phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không thống nhất được mọi việc trong gia đình.

Bà U làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà U được ly hôn với ông C.

Hội đồng xét xử xét thấy, do bà U và ông C có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, bà U và ông C không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mà lại chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1985 cho đến nay. Căn cứ khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực ngày 01/01/2015; Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực ngày 01/01/2015 thì việc chung sống giữa bà U và ông C không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Bà U làm đơn ly hôn với ông C, căn cứ Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực ngày 01/01/2015 thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà U và ông C.

[3.2] Về con chung:

Tuy không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị U và ông Nguyễn Thành C nhưng quyền và nghĩa vụ đối với con chung của bà U và ông C vẫn phải giải quyết theo Điều 15 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực ngày 01/01/2015.

Bà U và ông C đều thừa nhận trong thời gian chung sống, bà U và ông C có 05 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Linh – Sinh năm: 1985, Nguyễn Thị Ngọc Ngà – Sinh năm: 1987, Nguyễn Thị Ngọc Thủy – Sinh năm: 1990, Nguyễn Thị Ngọc Tiên – Sinh năm: 1997 và Nguyễn Thị Thu Hiền – Sinh năm: 2000. Hiện các con chung của bà U và ông C đều đã trưởng thành đủ 18 tuổi, bà U và ông C đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung:

Bà Trần Thị U và ông Nguyễn Thành C tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Trần Thị U phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 14; Điều 15; Điều 53; Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực ngày 01/01/2015; Áp dụng khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực ngày 01/01/2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị U.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Tuyên bố bà Trần Thị U và ông Nguyễn Thành C không phải là vợ chồng.

2. Về con chung:

Trong thời gian chung sống, bà Trần Thị U và ông Nguyễn Thành C có 05 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Linh – Sinh năm: 1985, Nguyễn Thị Ngọc Ngà – Sinh năm: 1987, Nguyễn Thị Ngọc Thủy – Sinh năm: 1990, Nguyễn Thị Ngọc Tiên – Sinh năm: 1997 và Nguyễn Thị Thu Hiền – Sinh năm: 2000. Hiện các con chung của bà U và ông C đều đã trưởng thành đủ 18 tuổi, bà U và ông C đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung:

Bà Trần Thị U và ông Nguyễn Thành C tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Trần Thị U phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà U đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004703 ngày 15/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

5. Về quyền kháng cáo:

Bà Trần Thị U và ông Nguyễn Thành C vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ