vanban.org

Bản án 21/2023/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 30/09/2023 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác đơn khởi kiện của ông Đinh Hữu A và bà Đỗ Thị H về yêu cầu huỷ một phần quyết định số 4869/QĐ-UBND ngày 10/12/2013 của UBND huyện Bố Trạch về việc thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông, bà Đinh Hữu A – Đỗ Thị H và yêu cầu trả lại cho gia đình b…

Về án phí Hnh chính sơ thẩm: Miễn án phí cho ông bà Đinh Hữu A -Đỗ Thị H Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Điinh hữu A và Đỗ Thị H kiện UBND hyện B"
  • Tòa quyết gì? Bác đơn khởi kiện của ông Đinh Hữu A và bà Đỗ Thị H về yêu cầu huỷ một phần quyết định số 4869/QĐ-UBND ngày 10/12/2013 của UBND huyện Bố Trạch về việc thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông, bà Đinh Hữu A – Đỗ Thị H và yêu cầu trả lại cho gia đình b…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật tố tụng Hnh chính; Điều 193 Luật tố tụng Hnh chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HC-ST
Ngày: 30 - 9-2023.
V/v khiếu kiện yêu cầu huỷ Quyết
định Hnh chính.

NHÂN DAH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Từ Thị Hải Dương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thí; Bà Nguyễn Thị Hoè

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Lệ Ah- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc LoA - Kiểm sát viên.

Ngày 18/9/2023 và ngày 30/9/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án Hnh chính thụ lý số: 20/2023/TLST-HC ngày 01 tháng 6 năm 2023 về việc “Yêu cầu hủy quyết định hành chính” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 290/2023/QĐXXST-HC ngày 14/8/2023, giữa các đương sự:

Ngƣời khởi kiện: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1961 và ông Đinh Hữu A, sinh năm 1952. Bà H có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông A: ông Nguyễn Văn B, trú tại TDP D, Thị trấn Nông trường V, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Trương Văn B, Luật sư Văn phòng luật sư C, Đoàn luật sư tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Ngƣời bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Bình do ông Nguyễn Ngọc T, Chủ tịch UBND huyện B đại diện theo pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B, có đơn đề nghị xử vắng mặt.

Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quA:

+ UBND thị trấn Nông trường V, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

+ Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Bình, có đơn đề nghị xử vắng mặt.

+ Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản đối thoại, phía người khởi kiện trình bày:

Năm 1990, gia đình bà Đỗ Thị H và ông Đinh Hữu A có khai hoAg phần điện tích đất đồi tại tiểu khu Dũng Cảm, thị trấn Nông trường Việt Trung cùng với nhiều hộ dân khác trong tiểu khu để trồng hoa màu. Sau đó, theo chủ trương của UBND thị trấn Nông trường chuyển đổi cây trồng để phủ xAh đất trống đồi núi trọc, gia đình bà đã chuyển sAg trồng keo. Năm 2007 thực hiện kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2009, gia đình bà được UBND huyện Quảng Trạch cấp hai thửa đất. Thửa thứ nhất số 51, tờ bản đồ số 52, diện tích 4.270 m2; Thửa thứ hai số 58, tờ bản đồ số 52, diện tích: 20.209 m2. Cả hai thửa đều mAg tên Đinh Hữu A và Đỗ Thị H, tại địa chỉ Tiểu khu Dũng Cảm, thị trấn nông trường Việt Trung. Trong thời gian này gia đình bà vẫn chăm sóc cây keo, không có tranh chấp. Mặc dù không đóng thuế nhưng gia đình bà có nộp lệ phí 1.000.000 đồng/ha đầy đủ theo chủ trương của Uỷ ban nhân dân thị trấn. Đến năm 2011, gia đình bà đưa máy lên làm đường và khai thác cây keo để chuyển sang trồng cây sắn thì xảy ra tranh chấp với Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Bình. Tranh chấp kéo dài 02 năm. Ngày 10/12/2013, Uỷ ban nhân dân huyện đã ban hành quyết định số 4869/QĐ-UBND về việc thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông, bà Đinh Hữu A – Đỗ Thị H. Gia đình bà thấy việc tranh chấp này không đúng nên đã có đơn kiến nghị đến nhiều cấp nhiều ngành. Ngày 20/9/2022, gia đình bà nhận được công văn trả lời đơn kiến nghị của công dân số 1665/UBND-TNMT của phòng Tài nguyên môi trường huyện B với nội dung: Uỷ ban nhân dân huyện B chỉ thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không thực hiện việc thu hồi đất của gia đình bà nên không đưa ra việc bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất.

Không đồng ý với quyết định số 4869/QĐ-UBND ngày 10/12/2013 về việc thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình bà đã liên tục viết đơn khiếu nại, kiến nghị nhiều cơ quan, nhiều cấp liên tục từ năm 2013 đến nay nhưng vẫn không được giải quyết thoả đáng.

Ngày 14/3/2023, gia đình bà đến Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình đến y sao sơ đồ địa chính gốc của khu vực thị trấn Nông trường Việt Trung thì được biết trong 02 thửa đất mà UBND huyện B ra quyết định thu hồi, huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà thì chỉ có thửa số 51 có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 151666 là thuộc đất của đơn vị T92, còn thửa đất số 58 có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 151986 thì hoàn toàn nằm ngoài rAh giới của đơn vị T92, không thuộc đất của đơn vị T92. Như vậy Uỷ bA nhân dân huyện Bố Trạch ra quyết định thu hồi cả 02 thửa đất của gia đình bà là không đúng với quy định pháp luật về thu hồi và huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc thu hồi đó đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà.

Vì vậy, ông bà đã làm đơn khởi kiện đến Toà án đề nghị huỷ một phần quyết định số 4869/QĐ-UBND ngày 10/12/2013 của UBND huyện B. Đồng thời, trả lại cho gia đình bà quyền sử dụng đất tại thửa số 58, tờ bản đồ số 52, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 151986 để gia đình bà được tiếp tục sử dụng.

Phía người khởi kiện trình bày: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện hủy một phần Quyết định số 4869/QĐ-UBND ngày 10/12/2013 của UBND huyện B vì các lý do sau: Sau khi xem xét nội dung, kiểm tra hồ sơ lưu trữ, thấy rằng:

+ Về việc ban hành Quyết định số 4869/QĐ-UBND ngày 10/12/2013 của UBND huyện Bố Trạch về việc thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông bà Đinh Hữu A- Đỗ Thị H: Theo kết quả giải quyết tranh chấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình tại Quyết định số 758/QĐ-CT ngày 06/4/2012 về việc giải quyết trAh chấp đất đai giữa hộ bà Đỗ Thị H với bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Bình và Bộ tài nguyên – Môi trường tại công văn số 4055/BTNMT-TTr ngày 26/10/2012 về việc giải quyết khiếu nại của bà Đỗ Thị H thì 02 thửa đất của hộ ông bà Đinh Hữu A, Đỗ Thị H (thửa số 51 và số 58 thuộc TBĐ số 52 bản đồ địa chính lâm nghiệp theo dự án 672) là diện tích trước đây đã giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh thực hiện dự án T92 nay chuyển sAg xây dựng trung tâm huấn huyện lực lượng vũ trang tỉnh, các thửa đất này nằm trong diện tích 49,05 ha mà 20 hộ dân (trong đó có hộ gia đình ông bà Đinh Hữu A - Đỗ Thị H) đã trAh chấp với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Kết quả giải quyết trAh chấp này, Uỷ ban nhân dân tỉnh và Bộ Tài nguyên Môi trường đều không công nhận quyền sử dụng đất của các hộ (trong đó có hộ gia đình bà Đỗ Thị H) đã được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 51 và số 58, TBĐ số 52 bản đồ địa chính dự án 672) nhưng xem xét hỗ trợ về tài sản là cây trồng trên đất, đến nay đã hỗ trợ xong và hộ gia đình ông A, bà H đã nhận tiền và bàn giao mặt bằng cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh.

Và để giải quyết vướng mắc liên quA đến việc sử dụng đất tại Trung tâm huấn luyện lực lượng vũ trang của Bộ chỉ huy quân sự, UBND tỉnh đã có công văn số 1357/UBND-TNMT ngày 26/11/2013 giao UBND huyện Bố Trạch thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng quy định cho hộ ông bà Đinh Hữu A- Đỗ Thị H tại thửa 51 với diện tích 4.270m2 và thửa 58, diện tích 20.209m2.

Thực hiện công văn số 1357/UBND-TNMT ngày 26/11/2013 của UBND tỉnh về việc giải quyết các vướng mắc liên quA đến việc sử dụng đất tại trung tâm huấn luyện lực lượng vũ trAg của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Uỷ ban nhân dân huyện B đã ban hành quyết định số 4869/QĐ-UBND ngày 10/12/2013 của UBND huyện B về việc thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông bà Đinh Hữu A, Đỗ Thị H.

Vì vậy đề nghị Toà án căn cứ vào các giấy tờ có liên quan và căn cứ theo các quy định của pháp luật để giải quyết theo đúng quy định pháp luật.

UBND thị trấn Nông trường V quá trình giải quyết không có văn bản nêu ý kiến.

Tại phiên toà sơ thẩm: Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đồng thời bổ sung yêu cầu buộc UBND huyện Bố Trạch bồi thường tài sản trên đất đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 52. UBND huyện Bố Trạch có đơn đề nghị xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu: Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm người tiến Hnh tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng Hnh chính; Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Hữu A – bà Đỗ Thị H đối với yêu cầu huỷ một phần quyết định số 4869/QĐ-UBND ngày 10/12/2013 của UBND huyện B và trả lại cho gia đình bà quyền sử dụng đất tại thửa số 58, tờ bản đồ số 52, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 151986 để gia đình bà được tiếp tục sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả trAh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định như sau:

. Về tố tụng: Quyết định số 4869/QĐ-UBND ngày 10/12/2013 của UBND huyện Bố Trạch về việc thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông, bà Đinh Hữu A – Đỗ Thị H, trú tại tiểu khu Dũng Cảm, thị trấn Nông trường Việt Trung, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Quá trình giải quyết, bà H trình bày có khiếu nại nhiều nơi nhưng không khởi kiện đến Tòa án và cũng không khiếu nại đến cơ quA Hnh chính cấp trên. Tuy nhiên theo bà trình bày thì năm 2023, gia đình bà H xin bản đồ năm 2009 tại Sở tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Bình mới biết được thửa đất số 58, tờ bản đồ số 52 trước đây UBND huyện B có quyết định thu hồi giấy chứng nhận nằm ngoài khu vực đất giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Hội đồng xét xử chấp nhận còn thời hiệu khởi kiện và thụ lý để giải quyết.

.Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của bà H, ông A về việc hủy một phần Quyết định số 4869/ QĐ-UBND ngày 10/12/2013 của UBND huyện B về việc thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông, bà Đinh Hữu A – Đỗ Thị H với lý do thửa 58, tờ bản đồ số 52 thị trấn Nông trường Việt Trung không thuộc đất giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Hội đồng xét xử thấy: Ngày 10/3/1993, Uỷ bA nhân dân tỉnh Quảng Bình đã có quyết định số 180/QĐ-UBND về việc thu hồi đất, giao đất để tHnh lập đơn vị kinh tế mới T92 với nội dung thu hồi 206 ha đất chưa sử dụng của Nông trường Việt Trung, 190 ha đất chưa sử dụng tại xã Hoà Trạch, huyện Bố Trạch giao ổn định lâu dài cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Bình thành lập đơn vị kinh tế mới T92 (có kèm trích lục bA đồ).Tuy nhiên, năm 2009, UBND huyện B cấp đất cho ông A, bà H tại hai thửa đất số 51, số 58, tờ bản đồ số 52 chồng lên phần đất đã được UBND tỉnh giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Bình. Ngày 26/11/2013 Ủy bA nhân dân tỉnh Quảng Bình đã bA Hnh Công văn số 1357 chỉ đạo UBND huyện Bố Trạch thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình bà H tại thửa 51 và 58, tờ bản đồ số 52. Thực hiện Công văn trên, UBND huyện B đã ra quyết định số 4869/ QĐ-UBND ngày 10/12/2013 của UBND huyện B về việc thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông, bà Đinh Hữu A – Đỗ Thị H. Việc UBND huyện B ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Quá trình tranh chấp giữa bà H và các hộ dân với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Bình năm 2012, Bộ chỉ huy đã làm việc với các hộ dân và có hỗ trợ tài sản trên đất. Theo bà H thì thửa đất số 58, tờ bản đồ 52 nằm ngoài diện tích đất giao cho Bộ chỉ huy nhưng bà không có chứng cứ để chứng minh. Ngày 29/9/2023, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Bình đã có công văn số 2940/STNMT-QLĐĐ xác định vị trí thửa 58, tờ bản đồ số 52 (bản đồ năm 2009) đã được UBND tỉnh Quảng Bình giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Bình trước đó. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện về việc hủy một phần quyết định số 4869 là không có căn cứ. Tại phiên tòa, người khởi kiện có yêu cầu bổ sung yêu cầu UBND huyện Bố Trạch bồi thường tài sản trên thửa đất số 51, tờ bản đồ số 52 vượt quá phạm vi khởi kiện bA đầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ các nhận định trênkhông có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Hữu A và bà Đỗ Thị H.

. Về án phí Hnh chính sơ thẩm: Ông A, bà H là người cao tuổi, nên thuộc trường hợp được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng Hnh chính;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Bác đơn khởi kiện của ông Đinh Hữu A và bà Đỗ Thị H về yêu cầu huỷ một phần quyết định số 4869/QĐ-UBND ngày 10/12/2013 của UBND huyện Bố Trạch về việc thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông, bà Đinh Hữu A – Đỗ Thị H và yêu cầu trả lại cho gia đình bà quyền sử dụng đất tại thửa số 58, tờ bản đồ số 52, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 151986 để gia đình bà được tiếp tục sử dụng.

2. Về án phí Hnh chính sơ thẩm: Miễn án phí cho ông bà Đinh Hữu A -Đỗ Thị H

3. Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ