vanban.org

Bản án 21/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị P đối với bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Buộc bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V liên đới trả cho bà Ngô Thị P số tiền hụi là 33.480.000 đồng. Kể từ ngày bà Ngô Thị P có đơn yêu cầu thi hành án, thì bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V phải liên đới chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Ngô Thị P - lê Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị P đối với bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/DS-ST
Ngày: 30-3-2023
“V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Nhị

2. Ông Nguyễn Hồng Phong

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa.

Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 26/2023/TLST-DS, ngày 30 tháng 01 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-DS, ngày 07 tháng 03 năm 2023 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị P, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hữu T, sinh năm: 1965; địa chỉ: ấp Bình Cang 1, xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Văn bản ủy quyền ngày 22/3/2023.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị T, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Văn bản ủy quyền ngày 02/3/2023

(ông T có mặt, bà T xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Ngô Thị P do ông Trần Hữu T trình bày: Bà P có tham gia hụi do bà T (tên thường gọi là G) làm chủ thảo:

Hụi trị giá 3.000.000đ, khui ngày 05/01/2021 âm lịch, 01 tháng khui một lần, hụi gồm 24 phần, bà P tham gia 01 phần, trong phiệu hụi tên Chị P số thứ tự là 5, bà P đã đóng hụi được 16 kỳ số tiền là 40.000.000đ. Kỳ thứ 17 và thứ 18 hụi nghỉ do dịch covid 19. Đến kỳ hụi thứ 19 (tháng 7/2022 âm lịch) thì hụi bể. Tổng số tiền hụi bà P đã đóng cho bà T là 40.000.000đ (mỗi kỳ đóng 2.500.000đ x 16 kỳ). Tại đơn khởi kiện bà P yêu cầu bà T ông V liên đới trả tiền hụi theo giá hụi chết là 49.5000.000đ. Tại phiên hòa giải bà P chỉ yêu cầu bà T và ông V liên đới trả tiền hụi là 40.000.000đ, không yêu cầu trả lãi, yêu cầu trả một lần. Ngoài ra không có yêu cầu nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Lê Thị T trình bày: Bà T thống nhất bà P có tham gia hụi do bà T là chủ thảo như bà P trình bày, thống nhất số tiền bà P đã đóng hụi như bà P trình bày cụ thể: Hụi trị giá 3.000.000đ, khui ngày 05/01/2021 âm lịch, 01 tháng khui một lần, hụi gồm 24 phần, bà P tham gia 01 phần, trong phiệu hụi tên chị P số thứ tự là 5, bà P đã đóng hụi được 16 kỳ số tiền vốn là 33.480.000đ. Kỳ thứ 17 và thứ 18 hụi nghỉ do dịch covid 19. Đến kỳ hụi thứ 19 (tháng 7/2022 âm lịch) thì hụi bể. Nay bà T đồng ý liên đới với ông V trả cho bà Phương tổng số tiền vốn góp là 33.480.000đ, bà T xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng đến khi trả hết số tiền nợ hụi cho bà P. Ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V do bà Lê Thị T trình bày: Ông V thống nhất với lời trình bày của bà T.

Vụ án được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn chỉ yêu cầu bà T và ông V liên đới trả tiền vốn góp là 33.480.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

. Bà Ngô Thị P khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị T trả số tiền hụi phát sinh từ hợp đồng góp hụi. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa.

. Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để xét xử nhưng có đơn xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị P, HĐXX xét thấy:

Ngày 05/01/2021 (âm lịch) bà P tham gia 01 phần hụi giá 3.000.000đ do bà T làm chủ hụi, tháng khui 01 lần, hụi 24 phần, bà P đã đóng được 16 kỳ với số tiền vốn là 33.480.000đ. Bà T và ông V thừa nhận bà T có tổ chức dây hụi như bà P trình bày và xác định bà P đã đóng được 16 kỳ số tiền vốn góp là 33.480.000đ. Tại phiên tòa ông T xác định hụi đã bể vào tháng 7/2022 (AL) và chỉ yêu cầu bà T ông V liên đới trả số tiền vốn góp là 33.480.000đ là phù hợp nên được chấp nhận.

Về lãi suất: Bà P không yêu cầu bà T ông V phải trả lãi trên số tiền nợ hụi nên HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Đối với yêu cầu xin trả dần: Bà T xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng đến khi trả hết số tiền nợ hụi cho bà P nhưng không được bà P đồng ý. Pháp luật không quy định việc cho trả dần nên ý kiến của bà T không được chấp nhận. Buộc bà T ông V phải liên đới trả 01 lần số tiền nợ hụi cho bà P.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà P được chấp nhận nên bà T ông V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho bà P theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Bà P không phải chịu án phí, hoàn tiền tạm ứng án phí cho bà P theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26 và các Điều 35, 39, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ; Điều 27, Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; Điều 26 luật thi hành án dân sự.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị P đối với bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Buộc bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V liên đới trả cho bà Ngô Thị P số tiền hụi là 33.480.000 đồng.

Kể từ ngày bà Ngô Thị P có đơn yêu cầu thi hành án, thì bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V phải liên đới chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn V phải liên đới chịu 1.674.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Ngô Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà P số tiền 1.240.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002868 ngày 13/01/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa.

3. Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt bản án hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án được quyền tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật Thi hành dân sự án. *Nơi nhận:

Cỡ chữ