- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng A và ông M, bà H"
- Tòa quyết gì? Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 171; Điều 177; Điều 179; Điều 196; Điều 208; Điều 220; khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 233; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dâ…
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 171 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/DS-ST Ngày: 27-6-2023 V/v : “Tranh chấ p hợ p đồ ng tí n dụng” |
NHÂN DANH
NƢỚ C CỘ NG HÒ A XÃ HỘ I CHỦ NGHĨ A VIỆ T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Khôi, bà Trần Thị Yến Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thượng – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tò a: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiể m sá t viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 47/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 3 năm 2023, về việc “Tranh chấp Hợ p đồ ng tí n dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-DS ngày 26/5/2023, quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-DS ngày 14/6/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng A
Địa chỉ: 89, L, phường H1, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D1 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng A: Ông Lê Hoàng V - Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; địa chỉ: QL 1A, KP8B, phường B, thành phố B1, tỉnh Đồng Nai (Theo văn bản ủy quyền số 10/2023/UQ-VPB ngày 16/01/2023).
- Bị đơn: Ông Lê Ngọc M, sinh năm 1985
Địa chỉ: Ấp 8 (ấp 3 mới), xã D, huyện P, tỉnh Đồng Nai
Bà Trần Thị H, sinh năm 1986
Địa chỉ: Ấp 3, xã D, huyện P, tỉnh Đồng Nai
(Có mặt đại diện nguyên đơn, vắng mặt bị đơn)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng A(Viết tắt: Ngân hàng A) đã cho ông Lê Ngọc M, bà Trần Thị H vay số tiền 329.000.000 đồng, theo Hợp đồng tín dụng số LN1706210087676/HNI/HĐTD ngày 18/7/2017, thời hạn vay đến ngày 18/7/2023, mục đích là mua xe;
Ngân hàng A đã giải ngân cho ông M, bà H theo Đề nghị giải ngân ngày 18/7/2017 với số tiền 329.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Tài sản thế chấp để bảo đảm cho số tiền vay tai hợp đồng tín dụng nêu trên là: 01 chiếc xe tải, nhãn hiệu VEAM, số loại VT350, số khung RN1G1F1B6GLJ02379, số máy D4BHF043359, biển số xe 60C-362.30, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 041092 do Phòng cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/9/2017 mang tên Lê Ngọc M. Đăng ký lần đầu ngày 15/7/2017.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông Lê Ngọc M và bà Trần Thị H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ đúng hạn. Vì vậy, các khoản vay đã chuyên sang nợ quá hạn kế từ ngày 18/8/2021.
Tính đến ngày 27/6/2023, ông Lê Ngọc M và bà Trần Thị H đã thanh toán được cho VPBank tổng số tiền: 358.275.423 đồng (Trong đó, gốc là 228.500.000 đồng, lãi là 129.775.423 đồng).
Dư nợ của khoản vay tạm tính tới ngày 27/6/2023 là 142.457.855 đồng (Trong đó, nợ gốc 100.500.000 đồng, nợ lãi 41.957.855 đồng)
Nay Ngân hàng A yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
1. Ông Lê Ngọc M và bà Trần Thị H phải thanh toán cho Ngân hàng A một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực tổng số tiền nợ tính đến ngày 27/6/2023 là 142.457.855 đồng (tiền nợ gốc là 100.500.000 đồng và nợ lãi là 41.957.855 đồng). Ngoài ra, ông Lê Ngọc M và bà Trần Thị H còn phải thanh toán cho Ngân hàng A tiền lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng cho vay kể từ ngày 28/06/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay.
2. Để đảm bảo thanh toán nợ vay, yêu cầu Tòa án tuyên tài sản thế chấp theo Hợp đồng cho vay số LN1706210087676/HNI/HÐTD ký ngày 18/7/2017 sẽ được phát mãi thi hành án để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể 01 chiếc xe tải, nhãn hiệu VEAM, số loại VT350, số khung RNIGIFIB6GLJ02379, số máy D4BHF043359, biển số xe 60C 362.30, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 041092 do Phòng cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/9/2017 mang tên Lê Ngọc M. Đăng ký lần đầu ngày 15/7/2017.
3. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, ông Lê Ngọc M và bà Trần Thị H có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 11/5/2023 ông Lê Ngọc M trình bày:
Vào ngày 18/7/2017 vợ chồng ông có ký Hợp đồng tín dụng số LN1706210087676/HNI/HĐTD với Ngân hàng A (Viết tắt: Ngân hàng A) để vay số tiền 329.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 18/7/2023, mục đích là mua xe; Ngân hàng A đã giải ngân cho vợ chồng ông theo quy định. Tài sản thế chấp để bảo đảm cho số tiền vay tai hợp đồng tín dụng nêu trên là: 01 chiếc xe tải, nhãn hiệu VEAM, số loại VT350, số khung RN1G1F1B6GLJ02379, số máy D4BHF043359, biển số xe 60C-362.30, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 041092 do Phòng cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/9/2017 mang tên Lê Ngọc M. Đăng ký lần đầu ngày 15/7/2017.
Tính đến ngày 27/6/2023, vợ chồng ông đã thanh toán được cho VPBank tổng số tiến: 358.275.423 đồng (Trong đó, gốc là 228.500.000 đồng, lãi là 129.775.423 đồng).
Dư nợ của khoản vay tạm tính tới ngày 11/5/2023 là 139.131.723 đồng (Trong đó, nợ gốc 100.500.000 đồng, nợ lãi 38.631.723 đồng)
Nay Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông phải trả cho Ngân hàng số tiền vay gốc và lãi phát sinh còn nợ thì vợ chồng ông cũng đồng ý trả cho Ngân hàng A. Trong trường hợp vợ chồng ông không trả nợ cho Ngân hàng thì vợ chồng ông đồng ý để Tòa án tuyên tài sản thế chấp theo Hợp đồng cho vay số LN1706210087676/HNI/HÐTD ký ngày 18/7/2017 sẽ được phát mãi thi hành án để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể 01 chiếc xe tải, nhãn hiệu VEAM, số loại VT350, số khung RNIGIFIB6GLJ02379, số máy D4BHF043359, biển số xe 60C 362.30, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 041092 do Phòng cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/9/2017 mang tên Lê Ngọc M. Đăng ký lần đầu ngày 15/7/2017. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, vợ chồng ông có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử Tòa án đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật về tố tụng dân sự, về thời hạn chuẩ n bị xét xử chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A. Cụ thể:
- Buộc ông Lê Ngọc M, bà Trần Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng A tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 27/6/2023 là: 142.457.855 đồng (Trong đó: Nợ gốc 100.500.000 đồng, nợ lãi 41.957.855 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông M, bà H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
- Kể từ ngày Ngân hàng A có đơn yêu cầu Thi hành án nếu ông M, bà H không thanh toá n số nợ nêu trên thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là : 01 chiếc xe tải, nhãn hiệu VEAM, số loại VT350, số khung RNIGIFIB6GLJ02379, số máy D4BHF043359, biển số xe 60C 362.30, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 041092 do Phòng cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/9/2017 mang tên Lê Ngọc M. Đăng ký lần đầu ngày 15/7/2017.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Ngọc M, bà Trần Thị H phải trả cho Ngân hàng Achi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Ông Lê Ngọc M, bà Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho Ngân hàng A số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
. Ông Lê Ngọc M và bà Trần Thi Hằng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để hòa giải mà vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được.
. Về quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự: Ngân hàng A khởi kiện ông M, bà H trên cơ sở Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Căn cứ khoản 3, Điều 26, Điều 30, Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” và xác định Ngân hàng A là nguyên đơn, ông M, bà H là bị đơn.
[1.3]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét thấy bị đơn ông M, bà H có nơi cư trú tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai theo qui định tại các 35 và 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.4]. Ông M, bà H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông M, bà H sự theo quy định của pháp luật.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét thấy:
. Về hình thức của Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng A và ông M, bà H (Hợp đồng tín dụng số LN1706210087676/HNI/HĐTD ngày 18/7/2017):
Ngân hàng A là tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các Tổ chức Tín dụng và các quy định khác của pháp luật và được phép cấp tín dụng tiêu dùng. Tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng LN1706210087676/HNI/HĐTD ngày 18/7/2017, ông M, bà H đã cung cấp các giấy tờ tùy thân, ký tên vào hợp đồng tín dụng từ đó thể hiện việc ký kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện và người ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Do đó, hợp đồng tín dụng LN1706210087676/HNI/HĐTD ngày 18/7/2017 đã ký kết đảm bảo về mặt hình thức và có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại các Điều 385; Điều 398; Điều 463; Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng.
. Về thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán:
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số LN1706210087676/HNI/HĐTD ngày 18/7/2017, bảng kê tính lãi và lời thừa nhận của ông Lê Ngọc M có cơ sở xác định Ngân hàng A đã ký kết Hợp đồng tín dụng cho vay số tiền 329.000.000 đồng. Tạm tính đến ngày 27/6/2023 ông M, bà H còn nợ Ngân hàng A số tiền nợ gốc là 100.500.000 đồng.
Do ông M, bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn và khởi kiện là có căn cứ theo thỏa thuận giữa hai bên và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010.
. Về yêu cầu trả nợ gốc: Xét ông M, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã được các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số LN1706210087676/HNI/HĐTD ngày 18/7/2017. Do đó, Ngân hàng A yêu cầu ông M, bà H có nghĩa vụ trả nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số LN1706210087676/HNI/HĐTD ngày 18/7/2017 với số tiền 100.500.000 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại các Điều 351; Điều 357; Điều 466; Điều 468; Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
. Về yêu cầu trả tiền lãi: Số tiền lãi quá hạn Ngân hàng A yêu cầu ông M, bà H trả được tính dựa vào sự thỏa thuận giữa các bên tại Hợp đồng tín dụng số LN1706210087676/HNI/HĐTD ngày 18/7/2017; thỏa thuận này phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010.
Do đó, yêu cầu của Ngân hàng A về việc buộc ông M, bà H có nghĩa vụ trả số tiền nợ lãi trong hạn, quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/6/2023) là 41.957.855 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Xét yêu cầu của Ngân hàng A về việc yêu cầu ông M, bà H tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 28/6/2023 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này phù hợp với thỏa thuận của các bên được quy định tại Hợp đồng tín dụng số LN1706210087676/HNI/HĐTD ngày 18/7/2017 nên có cơ sở để chấp nhận.
Xét ông M, bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của Ngân hàng A. Vì vậy, Ngân hàng Ayêu cầu Tòa án buộc ông M, bà H thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Đối với yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của Ngân hàng A:
Trong trường hợp ông M, bà H không trả tiền cho Ngân hàng A, hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng Ađề nghị Tòa án tuyên tài sản thế chấp theo Hợp đồng cho vay số LN1706210087676/HNI/HÐTD ký ngày 18/7/2017 sẽ được phát mãi thi hành án để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể 01 chiếc xe tải, nhãn hiệu VEAM, số loại VT350, số khung RNIGIFIB6GLJ02379, số máy D4BHF043359, biển số xe 60C 362.30, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 041092 do Phòng cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/9/2017 mang tên Lê Ngọc M. Đăng ký lần đầu ngày 15/7/2017.
Xét thấy, Hợp đồng thế xe ô tô số LN1706210087676/HNI/HĐTCSP ngày 18/7/2017 được ký kết giữa Ngân hàng Avới ông M, bà H phù hợp với quy định tại Điều 317, 319 Bộ luật dân sự 2015. Ông M, bà H cũng không tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng thế chấp, thừa nhận đã ký hợp đồng thế chấp trên cơ sở tự nguyện, nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý, có hiệu lực đối với các bên, ông M, bà H phải tuân thủ hợp đồng theo quy định tại Điều 401 Bộ luật dân sự và Điều 7 của Hợp đồng thế chấp nêu trên.
Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng A: Trường hợp ông M, bà H không thực hiện trả nợ hoặc trả nợ không hết cho Ngân hàng A, thì Ngân hàng Acó quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, ông Lê Ngọc M và bà Trần Thị H có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay, đồng thời chịu tất cả các khoản chi phí phát sinh trong quá trình giải quyết vụ kiện trên.
Ông Lê Ngọc M, bà Trần Thị H có nghĩa vụ giao lại tài sản đã thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp tài sản cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý tài sản thế chấp.
Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng về xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.700.000 đồng.
Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A được chấp nhận nên ông M, bà H phải chịu chi phí tố tụng về xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.700.000 đồng. Ngân hàng A đã tạm ứng chi phí tố tụng nên ông M, bà H phải nộp lại số tiền này để hoàn trả cho Ngân hàng A.
. Về án phí:
Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Ông M, bà H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 171; Điều 177; Điều 179; Điều 196; Điều 208; Điều 220; khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 233; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 317, Điều 319, Điều 401; Điều 351; Điều 357; Điều 385; Điều 398; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 688 của Bộ luật dân sự;.
- Khoản 2 Điều 91; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;
- Khoản 2 Điều 21 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016.
- Luật Phí và Lệ phí năm 2016;
- Điều 6, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A.
Buộc ông Lê Ngọc M, bà Trần Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng A tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 27/6/2023 là: 142.457.855 đồng (Trong đó: Nợ gốc 100.500.000 đồng, nợ lãi 41.957.855 đồng)
Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hà nh tạ i cơ quan Thi hà nh á n dân sự có thẩ m quyề n.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông M, bà H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Kể từ ngày Ngân hàng A có đơn yêu cầu Thi hành án nếu ông M, bà H không thanh toá n số n ợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là : 01 chiếc xe tải, nhãn hiệu VEAM, số loại VT350, số khung RNIGIFIB6GLJ02379, số máy D4BHF043359, biển số xe 60C 362.30, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 041092 do Phòng cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/9/2017 mang tên Lê Ngọc M. Đăng ký lần đầu ngày 15/7/2017. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, ông Lê Ngọc M và bà Trần Thị H có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết toàn bộ nợ vay.
Ông Lê Ngọc M, bà Trần Thị H có nghĩa vụ giao lại tài sản đã thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp tài sản cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý tài sản thế chấp.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Ngọc M, bà Trần Thị H phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Achi phí tố tụng về xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.700.000 đồng.
4. Về án phí:
- Ông Lê Ngọc M, bà Trần Thị H phải chịu là 7.122.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Trả lại cho Ngân hàng A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.273.500 đồng, theo biên lai thu số 0003191 ngày 08/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Các đương sự thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Ngân hàng Acó quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mườ i lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ông M, bà H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mườ i lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Tân Phú; - Chi cục THA huyện Tân Phú; - Các đương sự; - Lưu HS – LT. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bá Đại |