vanban.org

Bản án 21/2022/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Phú Yên Tuyên án 28/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh V phạm tội “Giết người”.

Về Hì nh phạ t: Áp dụng Điểm n, Khoản 1 Điều 123; Điểm a, b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự; Phạt: Bị cáo Lê Anh V – 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh V - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh V phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21 /2022/HS-ST
Ngày: 28/7/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Thẩm phán: Ông Nguyễn V Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Chùm, ông Huỳnh Công Trí và ông Trầ n Quang Đạ t.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Vân – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đáng – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và điểm cầu Th phần phần trụ sở Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Yên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 18/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Anh V, sinh năm 2000; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn QH, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hó a (học vấn): 12/12; giớ i tí nh: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Lê Văn Đ, sinh năm 1979 và bà Trương Thị Tuyết N, sinh năm 1982; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 18/02/2022 tại Trại giam Công an tỉnh Phú Yên ; có mặ t.

- Người bào chữa của bị cáo Lê Anh V:

1. Bà Trần Thị Hiệp – Luật sư, Văn phòng Luậ t sư Nguyễ nKhả Th, thuộ cĐoàn Luật sư tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng có gửi trước bản bào chữa và đượ c bị cá o đồ ng y.́

2. Ông Nguyễn Thanh Mận – Luật sư, Công ty Luật TNHH Bảo Khánh, thuộ c Đoàn Luật sư tỉ nh Phú Yên; có mặt.

- Bị hại: Phan Văn Th, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Thôn P K, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Hà Quốc T, sinh ngày 23/6/2003. Nơi cư trú: Thôn QH, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên; có mặt.

2. Lê Văn Đ, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Thôn QH, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên; có mặt.

* Người làm chứng:

1. Nguyễn Đình K, sinh ngày 16/9/2001. Nơi cư trú: Thôn QH, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên; có mặt.

2. Nguyễn Quang V, sinh ngày 09/01/2002. Nơi cư trú: Thôn QH, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên; vắ ng mặ t.

3. Lê Văn H, sinh ngày 01/01/2002. Nơi cư trú: Thôn QH, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên; vắ ng mặ t.

4. Văn Tấn N, sinh ngày 09/8/2003. Nơi cư trú: Thôn P K, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên; vắ ng mặ t.

5. Phan Trung T, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn P K, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên; có mặt.

6. Ung Tự T, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Thôn P K, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên; vắ ng mặ t.

7. Nguyễ n Tấ n N, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn QH, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên; vắ ng mặ t.

8. Nguyễ n Đì nh V, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Thôn QH, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên; vắ ng mặ t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 10/11/2021, Lê Anh V, Hà Quốc T, Lê Văn H và một số người khác đến khu vực bờ ruộng dọc đường DH22 thuộc Thôn P K, xã HT, huyện PH tìm bắt chuột thì gặp Phan Văn Th đang câu cá ở mương nước phía bên kia đường. T nhớ lại việc trước đây T bị Th đánh nên nảy sinh ý định đánh lại Th. T nhặt 01 khúc cây gỗ dài 1,2m ở dưới ruộng rồi một mình đi bộ lên mép đường bê tông DH22 gọi Th đến nói chuyện. Th đi đến đứng đối diện với T. T hỏi Th “Sao bữa trước em nhậu mà anh làm gì chặt em dữ anh”, Th nói “giờ mày muốn gì”. T dùng hai tay cầm khúc cây đưa lên đánh Th hướng từ trên xuống, Th đưa tay trái lên đỡ trúng vào cánh tay trái. Th xông đến xô xát đánh nhau với T. Thấy vậy, V đứng gần đó cầm cái cuốc dài 94cm của Hội mang theo để đào bắt chuột chạy đến, hai tay cầm cán cuốc vung lên, lật phần lưỡi cuốc hướng lên phía trên rồi đánh phần đai cuốc từ trên xuống trúng vào đầu bên phải của Th, làm Th gục ngã xuống đường bất tỉnh. V cùng mọi người đưa Th đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 374/TgT ngày 25/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: Tỷ lệ thương tích của Phan Văn Th là 21%, do vật tày và vật có cạnh tác động gây nên (trong đó vết thương bầm tím cánh tay trái 01%).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 87/TgT ngày 04/4/2022 của của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: Tại thời điểm giám định bổ sung tỷ lệ thương tích của Phan Văn Th là 44%, do vật tày và vật có cạnh tác động gây nên (bầm tím cánh tay trái không còn).

Bản Cáo trạng số: 19/CT-VKS-P1 ngày 30/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Lê Anh V về tội “Giết người” theo Điểm n, Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Anh V vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các T tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lê Anh V phạm tội “Giết người”.

- Về Hình phạt: Áp dụng Điểm n, Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Lê Anh V từ 09 năm đến 10 năm tù; thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 18/02/2022.

- Về Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm c, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy: 01 (Mộ t) cái Cuốc có kích thước dài 94 cm, phần cán cuốc bằng gỗ tròn, có đường kính 03cm; phần lưỡi cuốc bằng kim loại có kích thước (18x16)cm, dày 01cm.

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Do gia đì nh bị cáo đã tự nguyện hòa giải và bồi thường 22.000.000 đồ ng cho bị hạ i; bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xét.

Luật sư Nguyễn Thị Hiệp gử i bả n bà o chữ a , Luậ t sư Nguyễn Thanh Mẫn trình bày lời bào chữa; đều có nội dung đề nghị Hội đồng xét xử, phạt bị cáo mức án thấ p hơn mứ c án mà Kiểm sát viên đề ng hị; Luậ t sư Nguyễn Thanh Mẫn cò n cho rằ ng bị cá o Lê Anh V không có ý đị nh giế t bị hạ i nên không phạ m tộ i “Giế t ngườ i”, mà chỉ phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cá o đượ c hưở ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm a, Khoản 1 Điề u 51 Bộ luậ t Hì nh sự .

Trong phần đối đáp, Kiểm sát viên không nhất trí với lời đề nghị của những Người bào chữa, giữ nguyên quan điểm. Bị cáo nói lời sau cùng, xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tụ c tố tụ ng

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ngườ i làm chứng và người đại diện hợp pháp của họ không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, 06/08 người làm chứng vắng mặt . Nhưng xét thấ y , nhữ ng ngườ i nà y đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, chấp nhận ý kiế n của bị cáo, ngườ i bà o chữ a của bị cáo và Kiểm sát viên, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Anh V tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; các Bả n kết luận giám định, kết quả thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ và các tài liệu là chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 10/11/2021, tại khu vự c bờ ruộ ng dọ c đườ ng DH 22 thuộc Thôn P K, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên. Trong lú c đi tì m bắ t chuộ t , thấ y Hà Quốc T mâu thuẫn xô xá t vớ i Phan Văn Th; dù không bà n bạ c, không đượ c Tì nh kêu gọ i, nhưng Lê Anh V vẫ n xông đế n sử dụ ng cuốc dài 94cm, lậ t lưỡ i cuố c lên trên, dùng phần đai đánh 01 cái vào đầu Phan Văn Th, làm Th ngã xuống đường và được mọi người đưa đi cấp cứu kịp thời, nên không nguy hiểm đến tính mạng nhưng Th bị thương tích, tỷ lệ 44%. Giữ a bị cá o vớ i ngườ i bị hạ i không hề mâu thuẫ n, khi thấ y Hà Quốc T với Phan Văn Th xảy ra mâu thuẫn đánh nhau, bị cáo không vào can ngăn mà lại vô cớ dù ng hung khí nguy hiể m đá nh và o vù ng trọ ng yế u trên cơ thể củ a bị hạ i , thể hiệ n tí nh chấ t phạm tội côn đồ . Mặ t khá c, bản thân bị cáo cũng nhận thức rõ, hành vi dùng cây cuốc bổ từ trên xuố ng vào vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của người khác sẽ rất nguy hiểm có thể dẫn đến hậu quả chết người, nhưng bị cáo vẫn thực hiện là bất chấp pháp luật, xem thường tính mạng của người khác. Do đó, bản Cáo trạng số: 19/CT-VKS-P1 ngày 30/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Lê Anh V về tội “Giết người” theo Điểm n, Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội. Việ c Luậ t sư Nguyễ n Thanh Mậ n cho rằ ng bị cá o Lê Anh V chỉ phạm tội “Cố ý gây thương tí ch” là không thuyế t phụ c, nên không chấ p nhậ n.

Hành vi của b ị cáo Lê Anh V đặ c biệ t nguy hiể m , cườ ng độ phạ m tộ i

cao, tính chất phạm tội quyết liệt ; không chỉ để lạ i hậ u quả lớ n , di chứ ng lâu dà i cho ngườ i bị hạ i, mà còn gây mất trật tự trị an – an toà n xã hộ i tạ i đị a phương, nên chấ p nhậ n ý kiế n củ a Kiể m sá t viên để xử phạt nghiêm. Tuy nhiên, ngay sau khi thấy ngườ i bị hại bị đánh ngã xuống đấ t, bị cáo liền vứt cây cuốc, nhanh chó ng đỡ ngườ i bị hạ i dậ y bă ng bó vế t thương , đó n xe taxi kịp thời đưa người bị hại đi cấp cứ u; chủ động liên hệ với cơ quan Công an khai báo ra hành vi phạm tội của mình nhằ m là m g iảm bớt tác hại của tội phạm ; quá trình giải quyết vụ án luôn Th khẩn khai báo; mặ c dù gia đì nh có hoà n cả nh rấ t khó khăn , mẹ đang bị ung thư giai đoạ n cuố i, nhưng vẫ n tác động gia đình bồi thường 22.000.000 đồ ng cho bị hạ i để khắc phục hậu quả, thể hiện sự ăn năn hối cải, đượ c ngườ i bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt ; bản thân bị cáo đã từng phục vụ trong quân đội nhân dân V Nam được tặng nhiề u gi ấy khen; nên xem xé t cho bị cá o hưở ng các T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm a, b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồ ng thờ i á p dụ ng Khoả n 1 Điề u 54; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt cho phù hợp.

Về trách nhiệm bồi thƣờng dân sự: Gia đì nh bị cáo đã t ự nguyện hòa giải và bồ i thườ ng 22.000.000 đồ ng cho bị hạ i. Tại phiên tòa, mặ c dù đã đượ c giả i thích về quyền được yêu cầu bên gây ra thiệt hại phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe theo quy định tại Điều 590 Bộ luậ t Dân sự ; nhưng ngườ i bị hại cho rằ ng gia đì nh bị cá o rấ t khó khăn về kinh tế , nên tự nguyệ n không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bấ t cứ mộ t khoả n tiề n nà o khá c ; do đó Kiểm sát viên đề nghị Hội đồ ng xé t xử không xét là có cơ sở chấ p nhậ n.

Về Xử lý vật chứng: 01 (Mộ t) cái Cuốc có kích thước dài 94 cm, phần cán cuốc bằng gỗ tròn, có đường kính 03cm; phần lưỡi cuốc bằng kim loại có kích thước (18x16)cm, dày 01cm là công cụ mà b ị cáo dùng vào việc phạm tội, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm c, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy, là có cơ sở chấp nhận.

Vật chứng có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

Về án phí: Bị cáo Lê Anh V bị kết án phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với hành vi của Hà Quốc T dùng cây gỗ đánh trúng vào tay trái của Phan Văn Th gây thương tích 01%, T đánh Th xảy ra trước, giữa T và Lê Anh V cũng không có sự bàn bạc, thống nhất và tiếp nhận ý chí của nhau nên không đồng phạm với V về tội “Giết người”; mà hành vi của Tình phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Phan Văn Th có đơn không yêu cầu khởi tố hình sự đối với Hà Quốc T; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 6.500.000 đồ ng đối với T về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh V phạm tội “Giết người”.

1. Về Hì nh phạ t: Áp dụng Điểm n, Khoản 1 Điều 123; Điểm a, b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự;

Phạt: Bị cáo Lê Anh V – 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2022.

2. Về Xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm c, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (Mộ t) cái Cuốc có kích thước dài 94 cm, phần cán cuốc bằng gỗ tròn, có đường kính 03cm; phần lưỡi cuốc bằng kim loại có kích thước (18x16)cm, dày 01cm.

Vật chứng có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lê Anh V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo; bị hại; ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ