- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lac Van T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Lạc Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK NÔNG Bản án số: 21/2022/HSST Ngày: 20/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thơm và bà Lê Thị Hòa
-Thư ký phiên tòa: Ông Dương Chí Công - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hữu Ái- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lạc Văn T, sinh năm 1988 tại L; nơi cư trú: thôn 19, xã Đăk D, huyện C, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lạc Văn P, sinh năm 1957 và bà Triệu Thị L, sinh năm 1960; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 16/8/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk tuyên phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (theo bản án số 209/2018/HSST ngày 16/8/2018), chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/4/2019 và ngày 08/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông tuyên phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (theo bản án số 28/2020/HSST ngày 08/9/2020) chấp hành xong hình phạt tù 05/6/2021; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2009, bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt. Ngày 07/02/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột áp dụng biện pháp Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến ngày 09/4/2018 được tạm thời đưa ra khỏi cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/01/2022 - có mặt.
Bị hại:
1/ Bà Hà Thị X, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn 06, xã Đăk D, huyện C, tỉnh Đ - vắng mặt.
2/ Bà H’Yui B, sinh năm 1974; Địa chỉ: Buôn N, xã T, huyện C, tỉnh Đ - vắng mặt
3/ Ông Đinh Văn H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn 05, xã T, huyện C, tỉnh Đ - có mặt.
4/ Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1963; Địa chỉ: TDP 02, TT. E, huyện C, tỉnh Đ - có mặt.
5/ Ông Phạm Xuân Đ, sinh năm 1976; Địa chỉ: Bon U3, TT. E, huyện C, tỉnh Đ - vắng mặt.
6/ Ông Trần Anh T, sinh năm 1964; Địa chỉ: TDP 01, TT. E, huyện C, tỉnh Đ - vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn Bắc S, xã Đăk G, huyện Đ, tỉnh Đ - vắng mặt.
2/ Ông Bùi Văn C, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn Bắc S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ trong khoảng thời gian tháng 12/2021 (không nhớ rõ ngày cụ thể), Lạc Văn T đi bộ đến khu vực đường hẻm của đường Quốc lộ 14 phía sau cây xăng Trung Linh Phát giáp ranh giữa xã Trúc S và thị trấn E, thì phát hiện 01 (một) xe mô tô hiệu ESPERO, kiểu dáng Sirius, màu sơn đỏ đen, không nhớ rõ biển số, đang dựng bên lề đường có chìa khóa cắm sẵn trên ổ khóa xe. T đi đến lấy trộm chiếc xe rồi chạy đến tiệm thu mua phế liệu ở Thôn Bắc S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ gặp ông Bùi Văn C và hỏi xin một biển số xe cũ thì ông C nói T tự vào nhà kho tìm. Tại đây, T tìm được trong đống phế liệu được biển số 47FE-2589, T tháo biển kiểm soát của chiếc xe vừa lấy trộm được bỏ lại trong đống phế liệu rồi gắn biển số 47FE-2589 vào xe, sau đó T sử dụng chiếc xe này làm phương tiện.
Khoảng 08 giờ ngày 05/01/2022, T sử dụng xe mô tô gắn biển kiểm soát (BKS) 47FE-2589 đi dọc các tuyến đường xã Trúc S để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đi đến đoạn đường rẫy thuộc thôn 02, xã Trúc S, huyện C, tỉnh Đ, phát hiện 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, BKS 48D1-099.06 của ông Trần Anh T đang dựng trong rẫy cà phê cạnh đường đi, không có ai trông coi, chìa khóa cắm sẵn trên ổ khóa xe. T điều khiển xe gắn BKS 47FE-2589 đến giấu ở một rẫy cà phê cách đó khoảng 500 mét rồi đi bộ quay lại lấy chiếc xe mô tô BKS 48D1-099.06. Sau đó, điều khiển xe đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị D ở Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ bán cho bà D được số tiền 850.000 đồng (Tám trăm năm mươi nghìn đồng), rồi ra về. Chiều cùng ngày, T quay lại khu vực rẫy cà phê để lấy xe mô tô gắn BKS 47FE-2589 đã cất giấu trước đó để làm phương tiện đi lại và tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Đến 13 giờ ngày 06/01/2022, khi đang điều khiển xe mô tô gắn BKS 47FE-2589 để đi trộm cắp tài sản thì bị Công an huyện Cư Jut phát hiện, bắt giữ.
Quá trình điều tra xác định, ngoài hành vi trộm cắp nêu trên thì Lạc Văn Th còn thực hiện các vụ trộm cắp tài sản khác tại địa bàn huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông cụ thể:
Khoảng 08 giờ ngày 16/12/2021, Lạc Văn T đi bộ từ nhà ở thôn 19, xã Đ, huyện C, tỉnh Đă đến khu vực rẫy của người dân ở thôn 09, xã Đ, huyện C, tỉnh Đ để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đi đến rẫy nhà của chị Hà Thị X ở thôn 09, xã Đ thì phát hiện một xe mô tô hiệu Honda Future, màu đỏ đen, BKS 48D1-259.14 đang còn chìa khóa cắm trên ổ khóa xe dựng trong chòi rẫy (chòi rẫy không khóa cửa), thấy không có ai trông coi nên Th đi vào trong chòi rẫy dắt chiếc xe đi ra ngoài đường một đoạn rồi nổ máy xe đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị D ở thôn Bắc S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ bán cho bà D được số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), số tiền trên T đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 13 giờ ngày 18/12/2021, T điều khiển xe mô tô gắn BKS 47FE-2589 đi từ khu công nghiệp Tâm Thắng vào đường buôn Buôr, xã Tâm Thắng, huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông. Khi đi đến khu vực rẫy cà phê của người dân ở buôn Ea Pô, xã Tâm Thắng, thì phát hiện thấy 01 (một) xe mô tô hiệu Taurus, màu xanh đen, BKS 48H2-5130 của chị H’Yui B để ở cạnh chòi rẫy, không có người trông coi nên T điều khiển xe gắn BKS 47FE-2589 đến giấu ở một rẫy cà phê gần đó rồi đi bộ quay lại lấy chiếc xe mô tô BKS 48H2-5130. Rồi điều khiển chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị D ở thôn Bắc Sơn, xã Đăk Gằn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông bán cho ông C, bà D được số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), số tiền trên T đã tiêu xài cá nhân hết. Khoảng ngày 19/12/2021 thì T quay lại khu vực rẫy cà phê của người dân ở buôn Ea Pô, xã Tâm Thắng để lấy chiếc xe mô tô gắn BKS 47FE-2589 mà T đã giấu trước đó để làm phương tiện đi lại.
Khoảng 08 giờ ngày 29/12/2021, Lạc Văn T tiếp tục sử dụng xe mô tô gắn BKS 47FE-2589 đi đến khu vực gần nhà máy điện năng lượng mặt trời thuộc xã Trúc Sơn, huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông đi vào khu rẫy không có nhà dân để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đi đến đoạn đường mòn trong rẫy nhà ông Đinh Văn H ở thôn 05, xã Trúc Sơn thì phát hiện 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, BKS 48D1-076.65 của ông H để trong rẫy tiêu, không có ai trông coi nên T điều khiển xe mô tô gắn BKS 47FE-2589 đến giấu ở một rẫy của người dân cách đó khoảng 500 mét rồi đi bộ quay lại lấy chiếc xe mô tô BKS 48D1-076.65. Sau đó, T dùng chìa khóa của chiếc xe mô tô gắn BKS 47FE-2589 để mở khóa xe rồi điều khiển chiếc xe vừa trộm cắp được đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị D ở thôn Bắc Sơn, xã Đăk Gằn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông bán cho ông C, bà D được số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), số tiền trên T đã tiêu xài cá nhân hết. Chiều cùng ngày, T quay lại khu vực rẫy của người dân để lấy xe mô tô gắn BKS 47FE-2589 đã cất giấu trước đó.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/12/2021, T đi bộ từ hướng đường Quốc lộ 14 vào đường rẫy gần chân núi lửa thuộc tổ dân phố 02, thị trấn Ea Tling, huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đi đến đoạn đường rẫy của chị Nguyễn Ngọc T ở tổ dân phố 02, thị trấn Ea Tling thì phát hiện một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đen đỏ, BKS 48D1-03830 của chị T để ở ven đường không có ai trông coi, chìa khóa xe cắm sẵn trên ổ khóa xe nên T đã lấy chiếc xe trên và điều khiển đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị D ở thôn Bắc Sơn, xã Đăk Gằn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông bán cho ông C, bà D được số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), số tiền trên T đã tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 07 giờ ngày 02/01/2022, T đi bộ vào khu vực nghĩa trang của thị trấn Ea Tling thuộc tổ dân phố 01, thị trấn Ea Tling, huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đi đến đoạn đường đất cạnh rẫy tiêu của ông Phạm Xuân Đ thì T phát hiện một xe mô tô kiểu dáng DreamII, nhãn hiệu SuFat, màu nâu, BKS 48F3-9085 của ông Đ đang để trong rẫy cách đường khoảng 100 mét, không có ai trông coi nên đã lấy trộm chiếc xe trên và điều khiển xe đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị D ở thôn Bắc Sơn, xã Đăk Gằn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông bán cho ông C, bà D được số tiền 500.000 đồng (Năm trăm đồng), số tiền trên T đã tiêu xài cá nhân hết.
Vật chứng:
- 01 (một) xe mô tô gắn BKS 47FE-2589, màu sơn đỏ đen, số khung VDEJQ139FMB003724, số máy RPEWCB1PEAA003724, xe đã qua sử dụng, chưa tìm được chủ sở hữu;
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, xe không gắn BKS, số máy 5C63178286, số khung C6308Y178286, màu sơn đen bạc, xe đã qua sử dụng;
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future BKS 48D1-259.14, màu sơn đỏ đen, xe đã qua sử dụng;
- 01 (một) cờ lê bằng kim loại, một đầu khóa 10, một đầu cỡ khóa 12 thu trên người Lạc Văn T;
- Số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam: 80.000 đồng thu giữ trên người T.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL- HĐĐG ngày 10/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (một) xe mô tô màu đen bạc, BKS 48D1-099.06 nhãn hiệu YAMAHA dòng xe SIRIUS, loại xe hai bánh, số máy 5C63178286, số khung C6308Y178286, xuất xứ Việt Nam, tài sản đã qua sử dụng; giá trị của tài sản giao dịch trên thị trường tại thời điểm bị xâm hại ngày 05/01/2022 là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL- HĐĐG ngày 21/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE, màu đỏ đen sám, BKS 48D1-259.14, số máy JC76E0124028, số khung RLHJC7603GZ041076, tài sản đã qua sử dụng; giá trị của tài sản giao dịch trên thị trường tại thời điểm bị xâm hại ngày 16/12/2021 là 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đen đỏ, BKS 48D1-076.65, số máy 5C63703878, số khung RLCS5C630CY703843, tài sản đã qua sử dụng; giá trị của tài sản giao dịch trên thị trường tại thời điểm bị xâm hại ngày 29/12/2021 là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUFAT, màu nâu, BKS 48F3-9085, số máy VPJL1P50FMG064749, số khung RPJDCG1PJ4A064749, tài sản đã qua sử dụng; giá trị của tài sản giao dịch trên thị trường tại thời điểm bị xâm hại ngày 02/01/2022 là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA TAURUS, màu xanh đen, BKS 48H2-5130, số máy 16S2005940, số khung RLCS16S208Y005935, tài sản đã qua sử dụng; giá trị của tài sản giao dịch trên thị trường tại thời điểm bị xâm hại ngày 18/12/2021 là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu đen đỏ, BKS 48D1-038.30, số máy JC43E6350315, số khung RLHJC4329BY403964, tài sản đã qua sử dụng; giá trị của tài sản giao dịch trên thị trường tại thời điểm bị xâm hại ngày 30/12/2021 là 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL- HĐĐG ngày 05/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (một) xe mô tô BKS 93FA-000.27, màu đỏ đen, số máy VDEJQ139FMB003724, số khung RPEWCB1PEAA003724, tài sản đã qua sử dụng; giá trị của tài sản giao dịch trên thị trường tại thời điểm bị xâm hại tháng 12/2021 là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Bản cáo trạng số 23/CTr-VKS ngày 04 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút truy tố bị cáo Lạc Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Lạc Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lạc Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự:
+ Áp dụng điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Lạc Văn T từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Chấp nhận việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jut trả lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, xe không gắn BKS, số máy 5C63178286, số khung C6308Y178286, màu sơn đen bạc cho ông Trần Anh T; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future, BKS 48D1-259.14 cho chị Hà Thị X; BKS 47FE-2589 cho ông Lang Văn M là các chủ sở hữu hợp pháp.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cờ lê bằng kim loại, một đầu khóa 10, một đầu cỡ khóa 12.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự:
Đề nghị chấp nhận theo yêu cầu bồi thường của các bị hại đối với bị cáo. Các bị hại ông Phạm Xuân Đ yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), bà Nguyễn Ngọc T yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng), ông Đinh Văn H yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), bà H’ Yui B yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:
Trong khoảng thời gian từ ngày16/12/2021 đến 05/01/2022, tại địa bàn huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông, bị cáo Lạc Văn T có hành vi trộm cắp 06 (sáu) chiếc xe mô tô gồm: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future, màu đỏ đen, BKS 48D1-259.14, trị giá 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng) của chị Hà Thị X; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA TAURUS, màu xanh đen, BKS 48H2-5130, trị giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) của bà H’ Yui B; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đen đỏ, BKS 48D1-076.65, trị giá 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) của ông Đinh Văn H; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu đen đỏ, BKS 48D1-038.30, trị giá 8.500.000 đồng (Tám triệu năm nghìn đồng) của bà Nguyễn Ngọc T; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đen bạc, BKS 48D1-099.06, trị giá 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) của ông Trần Anh T; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUFAT, màu nâu, BKS 48F3-9085, trị giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) của ông Phạm Xuân Đ. Tổng giá trị tài sản bị cáo Lạc Văn T trộm cắp là 50.500.000 đồng (Năm mươi triệu năm trăm nghìn) đồng, bị cáo đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích, đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, mặt khác bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/6/2021 thì từ ngày 16/12/2021 đến ngày 05/01/2022 bị cáo liên tiếp thực hiện 06 lần trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu sài và đều lấy các lần phạm tội ấy là nghề sinh sống và là nguồn sống chính do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các Trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
…”
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
…
g) Tái phạm nguy hiểm.”
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên các bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu năm 2009, bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt. Ngày 07/02/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến ngày 09/4/2018 được tạm thời đưa ra khỏi cơ sở cai nghiện bắt buộc đây là những tình tiết xem xét, lưu ý khi lượng hình.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, đã xác định: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, xe không gắn BKS, số máy 5C63178286, số khung C6308Y178286, màu sơn đen bạc có BKS 48D1-099.06 theo đăng ký xe mô tô nhưng sau khi trộm cắp bị cáo T đã tự gỡ bỏ biển số xe nêu trên. Chiếc xe do Trần Thế (con của ông Trần Anh Tuấn; Sinh năm 1987; Trú tại: tổ dân phố 01, TT. Ea Tling, huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông) đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe nhưng ông Tuấn là người quản lý, sử dụng xe. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Trần Anh T. Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future, BKS 48D1-259.14, màu sơn đỏ đen là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bà Hà Thị X nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả cho chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với, BKS 47FE-2589 là của xe mô tô hiệu FULJIR có số khung CB052HC000103, số máy 1P39FMB320306998 do ông Lang Văn M (tên gọi khác Lang Thanh M) đứng tên trong Giấy đăng ký xe. Trong quá trình sử dụng xe, ông M làm rơi biển số 47FE-2589 nên đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Mão. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả cho chủ sở hữu hợp pháp.
Do đó áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jut trả lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, xe không gắn BKS, số máy 5C63178286, số khung C6308Y178286, màu sơn đen bạc cho ông Trần Anh T; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future, BKS 48D1-259.14 cho chị Hà Thị X; BKS 47FE-2589 cho ông Lang Văn M là các chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01 (một) cờ lê bằng kim loại, một đầu khóa 10, một đầu cỡ khóa 12 mà Lạc Văn T sử dụng để gỡ biển số của chiếc xe trộm cắp được và gắn biển số 47FE-2589 lên xe là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo Lạc Văn T là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Số tiền 80.000 đồng thu giữ trên người bị cáo là tài sản do trộm cắp mà có nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại ông Trần Anh T, chị Hà Thị X đã nhận lại tài nên và không có yêu cầu gì thêm.
Các bị hại ông Phạm Xuân Đ yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), bà Nguyễn Ngọc T yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng), ông Đinh Văn H yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), bà H’ Yui B yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho các bị hại nên cần ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho các bị hại.
Đối với việc bị cáo khai nhận đã bán các xe mô tô mang BKS 48D1-259.14, BKS 48H2-5130, BKS 48D1-07665, BKS 48D1-03830, 48F3-9085, 48D1-09906 mà bị cáo trộm cắp được cho bà Nguyễn Thị D và ông Bùi Văn C. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút đã làm việc với bà Nguyễn Thị D, ông Bùi Văn C, đối chất giữa bị cáo với bà Nguyễn Thị D, giữa bị cáo với ông Bùi Văn C. Nhưng bà D, ông C không thừa nhận đã mua xe mô tô do bị cáo trộm cắp mà có, bà D chỉ thừa nhận có cầm cố của bị cáo 02 (hai) xe mô tô mang BKS 48D1-259.14 và 48D1-09906, nhưng bà D không biết các xe trên là do bị cáo trộm cắp mà có. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút sẽ tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với việc ông Bùi Văn C có cho bị cáo 01 (một) biển số xe 47FE-2589 là do bị cáo tự tìm trong nhà kho đựng hàng phế liệu của nhà ông C. Ông C không biết bị cáo lấy biển số xe trên để gắn vào xe mô tô mà bị cáo mới trộm cắp được nên không có căn cứ xử lý.
Đối với xe mô tô có số khung VDEJQ139FMB003724, số máy RPEWCB1PEAA003724 mà bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại và trộm cắp tài sản. Bị cáo khai nhận đã trộm cắp chiếc xe trên vào khoảng tháng 12/2021 ở đường hẻm của đường Quốc lộ 14 phía sau cây xăng Trung Linh Phát giáp ranh giữa xã Trúc Sơn và thị trấn Ea Tling. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút đã tiến hành điều tra xác minh nhưng chưa tìm được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút sẽ tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Xét những chứng cứ buộc tội bị cáo, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đưa ra phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên HĐXX cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố bị cáo Lạc Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Căn cứ điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lạc Văn T 04 (Bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/01/2022.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 586, 589 Bộ luật dân sự và Điều 48 Bộ luật hình sự.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Lạc Văn T đồng ý bồi thường cho ông Phạm Xuân Đ số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu) đồng, bà Nguyễn Ngọc T số tiền 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn) đồng, ông Đinh Văn H số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu) đồng, bà H’ Yui B số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Chấp nhận việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jut trả lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, xe không gắn BKS, số máy 5C63178286, số khung C6308Y178286, màu sơn đen bạc cho ông Trần Anh T; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future, BKS 48D1-259.14 cho chị Hà Thị X; BKS 47FE-2589 cho ông Lang Văn M là các chủ sở hữu hợp pháp.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cờ lê bằng kim loại, một đầu khóa 10, một đầu cỡ khóa 12.
(Đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an huyện Cư Jút với Chi cục Thi hành án huyện Cư Jút ngày 10/5/2022).
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng).
(theo Giấy nộp tiền vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư Jút ngày 10/5/2022).
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Lạc Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.325.000 đồng (Một triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |