- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 21/2022/HS-ST Ngày: 14-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Vinh Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Huy Hoàng và bà Phạm Thị Ngọc Huế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2022/TLHS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Phan Thị T, sinh ngày 12/02/1964 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Tam Hiệp, xã Bình Thành, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Lớp 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Bá Dẫn (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tứ (đã chết); có chồng là Huỳnh Bá H; có 04 con, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thu D, sinh năm 1995; trú tại: Thôn Tam Hiệp, xã Bình Thành, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Huỳnh Bá T, sinh năm 1986; trú tại: Thôn Tam Hiệp, xã Bình Thành, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Huỳnh Bá H, sinh năm 1959; trú tại: Thôn Tam Hiệp, xã Bình Thành, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 11/01/2022, Phan Thị T đang rửa chén bát phía sau nhà mình tại thôn Tam Hiệp, xã Bình Thành, thị xã Hương Trà thì thấy cửa sổ phòng ngủ thứ nhất của chị Nguyễn Thị Thu D (con dâu T) đang khép hờ, vợ chồng chị D không có ở nhà. Tuyết nảy sinh ý định đột nhập vào trộm cắp tài sản để trả nợ nên đã trèo qua cửa sổ vào trong phòng ngủ lục tìm tài sản thấy ngăn trên cùng tủ áo quần bằng nhựa đã khóa nên Tuyết dùng tay giật mạnh làm ngăn kéo của tủ bung ra và tạo tiếng động lớn. Lúc này, ông Huỳnh Bá H đang xem ti vi ở nhà trên nghe tiếng động nên cầm đèn pin đi kiểm tra thấy cửa sổ phòng ngủ chị D mở hé nhưng không nghi ngờ gì nên đi lên lại. Lúc này, Tuyết đứng yên một lúc rồi tiếp tục tìm kiếm thì thấy bên trong ngăn kéo có 01 túi nilon chứa tiền nên lấy trộm. Tuyết mở cửa phòng ngủ thứ hai để ra ngoài rồi đem túi nilon chiếm đoạt được giấu dưới các viên gạch ở nhà bếp thì phát hiện trong túi có 01 hộp nhựa hình trái tim màu hồng bên trong có 01 nhẫn kim loại màu vàng nên đem vào cất giấu trong tủ áo quần phòng ngủ của mình, còn túi nilon chứa tiền T vẫn để ở dưới các viên gạch. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, vợ chồng chị D về nhà phát hiện bị mất tài sản nên trình báo với cơ quan công an.
Qua đấu tranh, truy xét, Cơ quan điều tra xác định Phan Thị T là người thực hiện hành vi trộm cắp các tài sản nêu trên, thu giữ số tiền 9.400.000 đồng và 01 nhẫn kim loại màu vàng.
Vật chứng thu giữ:
- Số tiền: 9.400.000 đồng;
- 01 nhẫn kim loại màu vàng, hình tròn, bên trong có ghi chữ “Rồng vàng 9999” có đường kính 1,7 cm dày 0,2 cm đựng trong hộp nhựa màu hồng hình trái tim.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 31/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hương Trà kết luận: 01 nhẫn kim loại màu vàng, mặt trong có ghi chữ “Rongvang 9999” khối lượng 3,75g (01 chỉ), hàm lượng vàng: 99,57% có giá 5.158.242 đồng.
Về xử lý vật chứng: Ngày 21/4/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương Trà đã trả lại số tiền: 9.400.000 đồng và 01 nhẫn kim loại màu vàng cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Thu D.
Về trách nhiệm dân sự: Phía bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-HTr ngày 12/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà đã truy tố bị cáo Phan Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thị T từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Về dân sự: Bị hại chị D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm. Nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố; tỏ ra ăn năn, hối hận về hành vi đã gây ra. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm công dân tốt cho xã hội.
Người bị hại tha thiết xin cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hương Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.
Bị cáo Phan Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền để trả nợ nên khoảng 18 giờ 30 phút ngày 11/01/2022, Phan Thị T đã có hành vi lén lút vào phòng ngủ của chị Nguyễn Thị Thu D (con dâu Tuyết), ở thôn Tam Hiệp, xã Bình Thành, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế lấy trộm 01 túi nilon bên trong có số tiền 9.400.000 đồng và 01 nhẫn kim loại màu vàng có giá trị 5.158.242 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Tuyết chiếm đoạt là 14.558.242 đồng.
Bị cáo Phan Thị T đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác với tổng trị giá 14.558.242 đồng nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-HTr ngày 12/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà truy tố bị cáo Phan Thị T theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo Phan Thị T thấy rằng: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là bị pháp luật cấm nhưng vì muốn có tiền để trả nợ, bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thị xã Hương Trà nên cần thiết phải xử lý nghiêm.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bị cáo Phan Thị T có nhân thân tốt. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Bị cáo Phan Thị T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị hại có đơn xin bãi nại, tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét thấy bị cáo Phan Thị T có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy có thể áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự, không cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Phan Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt:
Bị cáo Phan Thị T 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phan Thị T cho Ủy ban nhân dân xã Bình Thành, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phan Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh T.T.Huế; - Sở Tư pháp tỉnh T.T.Huế; - VKSND thị xã Hương Trà; - CA thị xã Hương Trà; - Chi cục THA DS TX. Hương Trà; - UBND xã Bình Thành; - Bị cáo; - Bi hại; - Người có QL, NVLQ; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Hồ Vinh Phú |