vanban.org

Bản án 21/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 16/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Xuân T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt: Phan Xuân T 02 (hai) năm tù; Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù của bị cáo Phan Xuân T về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2021/HS-ST ngày 26/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gấy thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Xuân T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 21/2022/HS-ST
Ngày 16/3/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Xuân Loan;

Ông Lê Thành Thật.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1992, tại thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ 07, khóm P, phường S, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh N và bà Lê Thị Kim H; có vợ là Nguyễn Thị L; chưa có con;

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

- Ngày 23/11/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 18/02/2012;

- Ngày 23/7/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 14/4/2014;

- Ngày 31/5/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 17 tháng, chấp hành xong quyết định ngày 27/9/2018;

- Ngày 17/6/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo đang chấp hành án phạt tù từ ngày 25/11/2020 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Long Xuyên; có mặt. 2. Phan Xuân T, sinh năm 1995, tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp S 1, thị trấn S, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Xuân L và bà Hoàng Thị Thanh T; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 26/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Bị cáo đang chấp hành án phạt tù từ ngày 24/3/2021 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh G; có mặt. Bị hại: Ông Nguyễn Quốc B (Bảo Bin), sinh năm 1988; nơi cư trú: ấp S 1, thị trấn S, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G; có mặt. Nguyên đơn dân sự: Trại tạm giam Công an tỉnh G; địa chỉ: khóm K 4, phường H, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1975; địa chỉ: số 568D/30A, khóm K 4, phường K, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: Trại tạm giam Công an tỉnh G; là người đại diện theo ủy quyền của Giám thị Trại tạm giam Công an tỉnh G; vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hoàng Thị Thanh T, sinh năm 1978; nơi cư trú: ấp S 1, thị trấn S, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 04 tháng 6 năm 2021, Nguyễn Quốc B bị điều chuyển từ Nhà tạm giữ Công an huyện Thoại Sơn đến Trại tạm giam Công an tỉnh G. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04 tháng 6 năm 2021, Bảo được Cán bộ quản giáo của Trại tạm giam đưa vào buồng tạm giam số 20, dãy A3 chung buồng giam với Nguyễn Hoàng T, Phan Xuân T, Trần Thanh Hải, Trần Văn Giang, Nguyễn Văn M, Nguyễn Hoài T, Trần Minh T, Chau R, Trương Minh P, Huỳnh Thanh H, Võ Văn K, Huỳnh Trung V, Nguyễn Ngọc G và Phạm Ngọc A. Khoảng 30 phút sau, Tâm kêu Bảo ngồi xuống nền gạch giữa 02 bệ xi măng (nơi người bị tạm giam, tạm giữ nằm) để Tâm sinh hoạt nội quy, cách thức vệ sinh trong buồng tạm giam thì thấy Bảo nhịp chân; Tâm cho rằng Bảo xem thường, cho nên tức giận, Tâm dùng chân trái đá 01 cái vào ngực phải của Bảo, dùng gót chân trái đạp từ trên xuống 01 cái vào lưng Bảo, rồi bỏ đi. Lúc này, Tương cho rằng, trước đây Bảo có đánh Mao (không rõ nhân thân) là bạn của Tương, cho nên Tương dùng chân trái đá 01 cái vào vùng mạn sườn phải của Bảo thì được những người giam chung can ngăn và trình báo cho Cán bộ quản giáo biết. Ngay sau đó, Bảo được Cán bộ Trại tạm giam đưa đến Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang điều trị thương tích, đến ngày 21 tháng 6 năm 2021 ra viện.

Căn cứ Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 305/21/TgT ngày 20 tháng 9 năm 2021 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang đối với Nguyễn Quốc B, sinh năm 1998, xác định:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Chấn thương ngực kín: Tràn dịch màn phổi phải. Dải xơ hóa đáy phổi phải 11%;

+ Chấn thương mạn sườn phải: Chấn thương gan phải độ IV. Hiện tại, còn khối tụ dịch gan phải 18%.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 18%.

Kết luận khác: Thương tích do vật tày gây nên.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKSLX-HS ngày 22 tháng 02 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Phan Xuân T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

- Bị hại ông Bảo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Thú cung cung cấp lời khai như trong giai đoạn điều tra.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố các bị cáo Tâm, Tương về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù;

Đồng thời, tổng hợp hình phạt với bản án trước đó theo quy định pháp luật. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ Luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Phan Xuân T từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù. Đồng thời, tổng hợp hình phạt với bản án trước đó theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu; số tiền 21.385.871 đồng từ gia đình (bà Hoàng Thị Thanh T là mẹ của bị cáo Tương) của bị cáo Tương đã bỏ ra để hoàn lại (chi phí điều trị đối với bị hại Bảo) cho Trại tạm giam Công an tỉnh xong và bà Thú không yêu cầu các bị cáo hoàn lại số tiền này nên đề nghị không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Long Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật. [2] Về hành vi bị truy tố của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người bị hại và những người làm chứng; phù hợp với thương tích trên người của bị hại Bảo và các tài liệu chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo Tâm, Tương là người có đủ khả năng nhận thức, năng lực, điều khiển hành vi của mình, chỉ vì mâu thuẫn sinh hoạt nội quy trong buồng tạm giam và mâu thuẫn trước đó ngoài xã hội mà các bị cáo đã vũ lực gây thương tích cho bị hại Bảo với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 27%. Trong quá trình điều tra, qua lời khai của các bị cáo, bị hại, người làm chứng thì cách thức các bị cáo thực hiện hành vi, dùng vũ lực gây thương tích cho bị hại phù hợp với các vết thương trên người bị hại. Về ý thức của các bị cáo gây thương tích cho bị hại là do các bị cáo nóng giận tức thời. Các bị cáo không có ý định nhắm vào vị trí nào trên cơ thể của bị hại và không có ý định giết người. Vì vậy, không có cơ sở xác định các bị cáo muốn tước đoạt tính mạng sống của bị hại Bảo. Tại phiên tòa, các bị cáo đều xác định đã dùng chân để đá, đạp vào lưng, vùng mạn sườn của bị hại Bảo gây thương tích với tỷ lệ thương tích là 27%.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho người khác là xâm phạm quyền bất khả xâm phạm sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại nơi giam giữ nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện thông qua cách thức các bị cáo thực hiện hành vi.

Cho nên, hành vi của các bị cáo Tâm, Tương đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố các bị cáo Tâm, Tương về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi của các bị cáo:

Sức khỏe là vốn quý của mỗi cá nhân và là nền tảng để mỗi người lao động, phát triển. Chính vì vậy, quyền được an toàn về sức khỏe của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đối với những người xâm phạm đến sức khỏe người khác một cách trái pháp luật, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất, là hình phạt.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Tâm, Tương đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại nơi giam giữ và xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Bên cạnh đó, xét về đồng phạm, khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ mà chỉ cùng nhau thực hiện tội phạm nên giữa các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn. Bị cáo Tâm trực tiếp dùng chân để đá vào ngực, đạp vào lưng của bị hại Bảo; bị cáo Tương trực tiếp dùng chân để đá vào vùng mạn sườn phải của bị hại Bảo gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 27%. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội, để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật, có ích cho xã hội và đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng, bị cáo Tương đã tác động người thân hoàn lại số tiền cho Trại tạm giam Công an tỉnh đã bỏ ra để điều trị đối với bị hại Bảo. Cho nên, bị cáo Tâm được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Tương được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình. [5] Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo Tâm đang phải chấp hành án, thời hạn 07 năm tù, theo Bản án hình sự phúc thẩm số 18/2021/HS-PT ngày 17/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; bị cáo Tương đang phải chấp hành án, thời hạn 02 năm tù, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2021/HS-ST ngày 26/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với tội đang xét xử và quyết định hình phạt chung của các bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. [6] Về trách nhiệm dân sự:

- Do bị hại, nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

- Trong giai đoạn điều tra, do được bị cáo Tương tác động, bà Hoàng Thị Thanh T đã bỏ ra số tiền 21.385.871 đồng để hoàn lại cho Trại tạm giam Công an tỉnh đã bỏ ra để điều trị đối với bị hại Bảo. Do bà Thú không yêu cầu các bị cáo Tâm, Tương hoàn lại số tiền này nên không đề cập giải quyết. [7] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định. Các bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Xử phạt: Nguyễn Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tù của bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Bản án hình sự phúc thẩm số 18/2021/HS-PT ngày 17/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; Hình phạt chung bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chấp hành là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 25/11/2020 (ngày hai mươi lăm, tháng mười một, năm hai nghìn không trăm hai mươi). 2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Phan Xuân T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt: Phan Xuân T 02 (hai) năm tù;

Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù của bị cáo Phan Xuân T về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2021/HS-ST ngày 26/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang;

Hình phạt chung bị cáo Phan Xuân T phải chấp hành là 04 (bốn) năm tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 24/3/2021 (ngày hai mươi bốn, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Phan Xuân T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo Tâm, Tương, bị hại ông Bảo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hoàng Thị Thanh T có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của nguyên đơn dân sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ