- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2022/HS-ST Ngày: 21/02/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - CAO BẰNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Kim Chi
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Văn Hải
2. Ông Long Văn Thanh
- Thư ký phiên toà: Ông Vi Hoàng Tùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Mã Thị Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 02 năm 2022, Tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2022/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Văn C (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 12 tháng 10 năm 1993 tại Giao Thủy, Nam Định; Nơi cư trú: Đội 03, Giao Nhân, G, Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Lê Văn Đ; Con bà: Doãn Thị M; Vợ: Trần Thúy A; Con: Có 02 con thứ nhất sinh năm 2016, con thứ hai sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biệp pháp tạm giữ, tam giam từ ngày 25/11/2021 đến nay; Có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Anh Phạm Xuân H - sinh năm 1983; Nơi đăng ký HKTT: Xuân Bảng, Bình Nguyên, K, Thái Bình. Tạm trú tại: Tổ 11 phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Tô Thị T - sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ 11, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
2. Ông Vương Văn T - sinh năm 1985; Nơi đăng ký HKTT: Xóm Đoàn Kết, xã Phúc Sen, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Tạm trú tại: Tổ 03, phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 15/11/2021, Công an thành phố Cao Bằng nhận được đơn trình báo của Phạm Xuân H (sinh năm 1983; tạm trú tại tổ 11, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) về việc: Khoảng 11h20’ cùng ngày, H bị mất 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu xanh, biển kiểm soát 98N7 - 0209 (không rút chìa khóa) ở trước cửa nhà kho thuộc tổ 04, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Qua rà soát các cửa hàng thu mua xe máy cũ, Công an đã thu giữ được 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu xanh, biển kiểm soát 98N7 - 0209 tại cửa hàng của ông Vương Văn T (địa chỉ tổ 03 phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) mua lại của đối tượng Lê Văn C.
Ngày 16/11/2021 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra yêu cầu định giá tài sản số 279 xác định giá trị tài sản trộm cắp. Tại kết luận định giá tài sản số 72/KL-TCKH ngày 19/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng kết luận: Giá trị chiếc xe mô tô là 2.256.000đ.
Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 09 giờ ngày 15/11/2021, Lê Văn C một mình đi bộ từ cầu Sông Hiến đến khu vực Quảng Trường thuộc phường Đ, thành phố Cao Bằng để tìm việc làm thuê. Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực đối diện cục Thuế tỉnh Cao Bằng thuộc tổ 04, phường Đ, thành phố Cao Bằng, C phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu xanh, biển kiểm soát 98N7 - 0209 không rút chìa khóa để trên vỉa hè. Quan sát xung quanh không thấy có người trông giữ, C đã nảy sinh ý định trộm cắp mang bán lấy tiền tiêu sài, C tiến lại gần và ngồi lên xe nổ máy, điều khiển xe đi theo hướng phường N, thành phố Cao Bằng. Khi đi đến khu vực cầu Nà Cáp thuộc phường S, C dừng xe ở bờ đường mở cốp thấy có giấy tờ xe máy. Sau đó C tháo và vứt gương chiếu hậu của xe vào bụi rậm ven đường, rồi tiếp tục điều khiển xe đi bán cho Vương Văn T (sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú tại xóm Đoàn Kết, xã Phúc Sen, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; tạm trú tại tổ 03, phường N, thành phố Cao Bằng) được 3.000.000đ. Sau đó C bắt xe khách đi vào huyện T, tỉnh Cao Bằng để làm thuê. Đến ngày 24/11/2021, C ra thành phố Cao Bằng thì bị Công an thành phố Cao Bằng phát hiện đưa về trụ sở làm việc.
Tại Bản cáo trạng số: 08/CT - VKSTP, ngày 14 tháng 01 năm 2022. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Trộm cắp tài sản" theo qui định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt và tại bản khai tại cơ quan điều tra, bị hại Phạm Xuân H cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tô Thị T xác nhận, xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu xanh, biển kiểm soát 98N7 - 0209 bị mất trộm thuộc sở hữu của cả hai vợ chồng, người đứng tên chủ sở hữu bà Tô Thị T, hiện gia đình đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt và tại bản khai tại cơ quan điều tra: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vương Văn T xác nhận: Ngày 15/11/2021 có được mua 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu xanh, biển kiểm soát 98N7 - 0209 của bị cáo C với số tiền là 3.000.000đ, hiện Công an thành phố Cao Bằng đã thu giữ toàn bộ tang vật, khi mua bán ông không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có, nay gia đình bị cáo C đã bồi thường đủ số tiền 3.000.000đ nên không có yêu cầu gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát căn cứ vào khoản 1 Điều 173 của Bộ Luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn C, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo C từ 06 - 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được bồi thường, nhận lại tài sản và không có yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ và có quyết định xử lý vật chứng tại giai đoạn điều tra đúng quy định pháp luật nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi Trộm cắp tài sản mà bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua đó đã chứng minh được: Khoảng 11 giờ ngày 15/11/2021, Lê Văn C đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu xanh, biển kiểm soát 98N7 – 0209 của Phạm Xuân H tại khu vực thuộc tổ 04, phường Đ, thành phố Cao Bằng đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Trị giá chiếc xe mô tô bị chiếm đoạt là 2.256.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản.
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ...”
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Lê Văn Ctội Trộm cắp tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo Lê Văn C đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là phạm pháp, nhưng do bản thân bị cáo nghiện ma túy, thích ham chơi, lười lao động, để có tiền tiêu sài cá nhân bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra khai báo thành khẩn, bị cáo đã tác động gia đình giúp đỡ bồi thường thiệt hại, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lê Văn C phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra khai báo thành khẩn, bị cáo đã tác động gia đình giúp đỡ bồi thường thiệt hại, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên do bị cáo bản thân nghiện ma túy, để có tiền sử dụng ma túy ngày 15/11/2021 bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, việc để bị cáo ở ngoài xã hội là không đảm bảo mà cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để bị cáo cai nghiện ma túy, cải tạo bản thân trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội sau này, đồng thời để phòng ngừa bị cáo tiếp tục phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định, chưa có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Về việc xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ và ra quyết định xử lý vật chứng tại giai đoạn điều tra đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét..
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn C.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C 06 (sáu) tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 25/11/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Lê Văn C phải chịu nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Sở tư pháp; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Kim Chi |