- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Văn T và đồng phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Văn T và Đinh Xuân L phạm tội “T àng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng H ình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng H ình sự; Điều 17 Bộ luật H ình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2022/HS -ST Ngày: 29-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG HO
À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: bà Trịnh Thanh H ương.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đoàn Thân và ông Nguyễn Văn Thiện .
- Thư ký phiên toà: ông Đỗ Ngọc Nhạn
- Thư k ý Tòa án, Toà án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: bà Doãn Thị Luyến - Kiểm sát vi ên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2022 tại Hội tr ư ờng xét xử T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án h ình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2022/HSST ngày 20/01/2022, theo quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXXST - HS ngày 15/3/2022 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T; sinh năm1990; tại xã V, huyện N, tỉnh N; trútại: thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh N; nghề nghiệp: lao động tự do ; trình độ văn hoá: không biết chữ ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th và bà Nguyễn Thị M ; bị cáo có vợ là Chẻo Thị M và có 03 con; tiền án, tiền sự: không.
Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ từ ng
ày 23/9/2021 đến ngày 02/10/2021 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đến nay.
Bị cáo có mặt tại phi ên toà.
2. Đinh Xuân L; sinh năm1989; tại xã V, huyện N, tỉnh N; trú tại: thôn Đ, xã V, huyệ n N, tỉnh N; nghề nghiệp: lao động tự do ; trình độ văn hoá : lớp 2 /12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Đinh Xuân Ch và bà Bùi Thị X ; bị cáo có vợ là Tăng Thị Ph ương D và có 01 con; tiền án, tiền sự: không.
Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ từ ng
ày 23/9/2021 đến ngày 02/10/2021 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đến nay.
Bị cáo c ó mặt tại phi ên toà.
Ngư ời l àm chứng : Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1996; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện H , tỉnh T ; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt nh ư sau:
Vào lúc 22 giờ, ng ày 23/9/2021 tại thôn Đông Trung, x ã Hà Bình, huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa, C ơ quan đi ều tra Công an huyện H à Trung phát hiện Đinh Xuân L điều khiển xe mô tô,biển kiểm soát 35H4 – 178.52 chở Nguyễn Văn T có biểu hiện nghi vấn,
tiến h ành dừng xe kiểm tra thấy Nguyễn Văn T
thả từ tay phải xuống đ ư ờng hai gói nilon m àu đen, kiểm tra thấy b ên ngoài bọc ni lon màu đen, tiếp đến l à lớp giấy trắng, trong c ùng có chứa chất bột trắng ng
à dạng cục vụn. Ngay tại chỗ Nguyễn Văn T và Đinh Xuân L khai nhận gói nhỏ Công an vừa thu giữ l à ma túy T và L mới mua để sử dụng
. Kiểm tra ngư ời T và L không phát hiện, thu giữ gì thêm. Công an đã lập bi ên bản bắt ng ư ời phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T , Đinh Xuân L, niêm phong vật chứng .
Vật chứng thu giữ gồm : 02 (Hai) gói, bên ngoài đư ợc bọc bằng nilon màu đen tiếp đến là lớp giấy màu trắng, b ên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn , đư ợc niêm phong ký hiệu “vụ Nguyễn Văn T + Đinh Xuân L”; 01 (một ) xe mô tô biển kiểm soát35H4 - 178.52; 01 (một) điện thoại di động
nhãn hiệu Masstelmàu đen, đỏ , số IMEI1: 355634049341867, số IMEI2: 357620048842862.
Chiếc điện thoại của
Đinh Xuân L đã đánh rơi trên đư ờng đi mua ma túy n ên cơ quan c ảnh sát điều tra Công anh huyện H à Trung không thu giữ đ ư ợc.
Tại bản kết luận giám định số:
3023/PC09 ngày 30/9/2021của Ph òng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận:
Chất bột m àu trắng ng à dạng cục vụn của phong b ì niêm phong kí hiệu “Vụ Nguyễn Văn T + Đinh Xuân L” gửi giám định l à ma túy, có tổng khối lư ợng: 0, 651g (không phẩy sáu năm một gam) loại: Heroine .
Quá trình điều tra, Nguyễ n Văn T và Đinh Xuân L khai nhậ n: Khoảng 19 giờ 44 phút, ng ày 23/9/2021, Nguyễn Văn T gọi điện cho Đinh Xuân L ngư ời c ùng thôn Đ, xã V, huyện N , tỉnh N rủ đi mua ma túy, L đồng ý v à điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35H4 – 178.52 chở T vào thị trấn Hà Trung để mua ma túy về c ùng sử dụng. L điều khiển xe v ào khu dân cư phía sau Công ty thuốc lá Thanh Hóa rồi dừng lại trư ớc một ngôi nh à có cửa sổ ngay cạnh đ
ư ờng, T đưa cho L 800.000 đồng để mua ma túy, L cầm tiền đ ưa qua c ửa sổ th ì có ngư ời cầm tiền v à đưa l ại cho L hai gói ma túy bọc b ên ngoài bằng nilon m àu đen. L cầm hai gói ma túy đ ưa cho T rồi cả hai theo đư ờng cũ ra về
. Khi đi đến thôn Nội Th ư ợng, x ã Hà Bình, huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa th ì bị Công an kiểm tra, do sợ nên T thả hai gói ma túy đang cầm ở tay phả i xuống đất, ngay d ư ới chân T và L đứng th ì bị Công an thu giữ v à lập bi ên bả n bắt ng ư ời phạm tội quả tang, ni
êm phong vật chứng .
Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 19/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện
Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đ ã truy tố các bị cáo về tội “T àng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật H
ình sự năm 2015.
Tại phi ên tòa, các bị cáo thừa nhận h ành vi như cáo tr ạng đ ã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H
à Trung giữ nguy ên quyết định truy tố v à đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249;
Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật H ình sự đối với cả hai bị cáo
, xử phạt bị cáo
Nguyễn Văn T từ 27 tháng đến 30 tháng tù; xử phạt bị cáo
Đinh Xuân L từ 24 tháng đến 27 tháng tù. Tịch thu ti êu hủy to àn bộ số ma túy c òn lại sau giám định l à vật chứng vụ án
; tịch thu sung quỹ Nh à nư ớc 01 chiếc điện thoại
di động nhãn hiệu Masstelmàu đen, đỏsố IMEI1: 35563404934 1867, số IMEI2: 357620048842862 ; trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 35H4 – 17852; buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA
TÒA ÁN:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v
ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh
ư sau:
[1]. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo không có khiếu nại về h
ành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng
ư ời tiến h ành tố tụng v à cơ quan ti ến h ành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng
ư ời tiến h ành tố tụng, c ơ quan ti ến hành tố tụng đ ã thực hiện đúng với tr
ình tự, thủ tục, thẩm quyền v
à hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng h
ình sự.
[2]. Lời khai của các bị cáo tại phi ên toà phù hợp với lời khai của
các bị cáo ở giai đoạn điều tra, ph ù hợp với vật chứng thu giữ đ
ư ợc v à bản kết luận giám định, đủ c ơ s ở khẳng định: Ng ày 23/9/2021, Nguyễn Văn T và Đinh Xuân L đã có hành vi tàng trữ t rái phép chất ma tuý với khối l
ư ợng 0,651g (không phẩy sáu năm một gam) loại: Heroine , nhằm mục đích sử dụng.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện H à Trung truy tố các bị cáo về tội “T àng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật H
ình sự năm 2015 l à đúng ngư ời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo l à nguy hiểm cho x ã hội, xâm phạm đến chế độ độc
quyền quản lý của Nh à nư ớc về các chất ma
tuý. Đây là chất gây nghiện có tác hại rất lớn v à ảnh h ư ởng xấu tới sức khoẻ con ng
ư ời, l à một trong những nguy ên nhân chính gây ra các loại tội phạm v à tệ nạn x ã hội khác.V ì vậy, phải cách ly khỏi đời sống x ã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục b
ị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.
Các bị cáo thực hiện tội phạm mang tính đồng phạm giản đ
ơn, trong đó Nguyễn Văn T vừa l à ngư ời khởi x ư ớng vừa l à ngư ời bỏ tiền mua ma túy
, Đinh Xuân L là ngư ời thực h ành tích cực, trực tiếp mua ma túy
nên Nguyễn Văn T giữ vai trò cao hơ nvà phải chịu trách nhiệm h ình sự cao h ơn so với Đinh Xuân L.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo đ ã thành khẩn khai báo, đây l à tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật h
ình sự.
Đối với ng ư ời bán ma túy cho L và T ở ngôi nh à có cửa sổ sát đ ư ờng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung đã tiến h ành xác minh là nhà của Nguyễn Thị A , sinh năm 1989 tại tiểu khu T , thị trấn H, huyện H , tỉnh T , Nguyễn Thị A không thừa nhận việc bán ma túy cho T và L. T và L cũng không xác định đư ợc ng ư ời bán ma túy cho m ình là nam hay nữ, không nh ìn thấy ng ư ời bán n ên không có căn cứ để xử lý.
[3]. Về vật chứng:
Số ma túy cơ quan đi ều tra thu giữ đ ư ợc c òn lại sau giám định l à vật cấm tàng trữ, l ưu hành nên ph ải tịch thu ti êu huỷ. Chiếc điện thoại
di động nhãn hiệu Masstel, T dùng để gọi điện rủ L
đi mua ma túy, đây là phương tiện li ên lạc phạm tội n ên phải tịch thu nộp n gân sách Nhà nư ớc .
Đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát 35H4
- 1782, chiếc xe không phải l à vật chứng của vụ án n
ào và không phải l à phương ti ện phạm tội
nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Toán l à phù hợp .
[4]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38;
Điều 17; Điều 58; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật H ình sự đối với cả hai bị cáo.
1. Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Văn T và Đinh Xuân L phạm tội “T àng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về h ình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn
T 27 (Hai mươi b ảy ) tháng tù, thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày bị cáo bị tạm giữ l
à ngày 23/9/2021.
Xử phạt bị cáo Đinh Xuân L
24 (Hai mươi b ốn ) tháng tù, thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày bị cáo bị tạm giữ l
à ngày 23/9/2021.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật h
ình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng H
ình sự.
Tịch thu ti êu huỷ: To àn bộ số ma tuý c òn lại sau giám đị nh, đư ợc đựng trong
phong bì do Phòng kỹ thuật h ình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa phát h ành đư ợc dán kín, niêm phong;
Tịch thu nộp ngân sách nh à nư ớc 01 chiếc điện thoại
di động nhãn hiệu Masstel màu đen, đỏ gắn sim số 0833830809, số IMEI1: 355634049341867, số IMEI2: 357620048842862.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 35H4 - 17852.
(Đặc điểm của phong b ì niêm phong, chiếc điện thoại
và chiếc xe môtô theo biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi h ành án Dân sự huyện H à Trung ngày 28/3/2022).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng H
ình sự; Điều 6, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/
2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ờng vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T và Đinh Xuân L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự s ơ th ẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ng ày tuyên án.
Trư ờng hợp bản án đ
ư ợc thi h ành theo Điều 2 Luật Thi h ành án Dân sự th ì ngư ời đ ư ợc thi h ành án dân sự, ng ư ời phải thi h ành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặ c bị c ư ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 , 7a và 9 Luật Thi h ành án Dân sự; thời hiệu thi h ành án đư ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h
ành án Dân sự.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá; - Công an huyện Hà Trung; - Bị cáo; - Lưu h ồ s ơ v ụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phi ên tòa TrịnhThanhH ương |