vanban.org

Bản án 21/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận chị Võ Thị L và anh Nguyễn Văn K là vợ chồng.

Về tài sản chung: Chị Võ Thị L và anh Nguyễn Văn K xác định không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình chị L phải nộp 300.000 đồng, chị L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Linh - Nguyễn Văn Khiêm"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Võ Thị L và anh Nguyễn Văn K là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH D

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/HNGĐ-ST
Ngày 13 - 5 - 2022
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH D

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trung Kiên

Bà Ngô Như Ý

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Nhiều, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh D.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh D tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ Tiên, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2022 về việc “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị L, sinh năm 1978 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh D.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1977 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 4 năm 2022 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn chị Võ Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn K tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào khoảng năm 1996, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập hoán ở địa phương, không có đăng ký kết hôn. Do cuộc sống giữa chị và anh K có nhiều bất đồng, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, chị và anh K đã ly thân 03 năm nay. Nay xét thấy không thể tiếp tục chung sống với anh K nên chị L yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị với anh K.

Vê con chung: Chị L và anh K chung sống với nhau có hai người con chung là cháu Nguyễn Văn K1, sinh năm 1997 và cháu Nguyễn Thị K2, sinh năm 2001. Các con của chị và anh K đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay chị L yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị L với anh K.

Theo bị đơn anh Nguyễn Văn K trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị L về việc tự nguyện chung sống, không đăng ký kết hôn; về con chung có hai người con chung là cháu Nguyễn Văn K1, sinh năm 1997 và cháu Nguyễn Thị K2, sinh năm 2001. Các con đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. nay anh K đồng ý ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh D trình bày việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố chị L và anh K không phải là vợ chồng; Tài sản chung, nợ chung không có nên không đặt ra giải quyết. Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Chị Võ Thị L nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Nguyễn Văn K. Hiện anh K đang cư trú tại Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh D nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngoài ra, quá trình làm việc, chị L và anh K đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh K.

Về hôn nhân: Vào năm 1997 chị L và anh K tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, chỉ tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, là hôn nhân không hợp pháp. Chị L cho rằng, trong quá trình chung sống, anh, chị có nhiều mâu thuẫn và mâu thuẫn này không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo nên chị L yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị L với anh K. Phía anh K cũng đồng ý theo yêu cầu chị L. Xét thấy, do chị L và anh K không có đăng ký kết hôn, theo quy định khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản… được giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”. Do vậy, Tòa án không công nhận chị L và anh K là vợ chồng.

Về con chung: Chị L và anh K thống nhất xác định quá trình chung sống, chị L và anh K có 02 người con chung là cháu Nguyễn Văn Khả, sinh năm 1997 và cháu Nguyễn Thị Khéo, sinh năm 2001. Các con đều trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh K thống nhất xác định anh, chị không có tạo lập tài sản chung, không nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình chị L phải nộp 300.000 đồng, chị L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000968 ngày 13/4/2022, được chuyển thu án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Các quan điểm đề xuất việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Võ Thị L và anh Nguyễn Văn K là vợ chồng.

2. Về tài sản chung: Chị Võ Thị L và anh Nguyễn Văn K xác định không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

3. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình chị L phải nộp 300.000 đồng, chị L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000968 ngày 13/4/2022, được chuyển thu án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ