- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VỤ ÁN LY HÔN LONG VĂN P - LA THỊ G"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Long Văn P và chị La Thị G.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2022/HNGĐ-ST Ngày 26/12/2022 Về việc: Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thị Mỹ Phước
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Hữu An
Bà Lương Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Bích – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Hiển - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 49/2022/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022, về việc xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Long Văn P, sinh năm 1994. Trú tại: N, xã A, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Bị đơn: Chị La Thị G, sinh năm 1992. Trú tại: N, xã A, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 10 năm 2022, bản tự khai và các lời khai tiếp theo anh Long Văn P trình bày: Anh và chị La Thị G có quen biết được tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới từ ngày 09 tháng 9 năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là xã A), huyện V, tỉnh Lạng Sơn trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, không bị lừa dối, không bị ép buộc. Sau kết hôn vợ chồng cùng nhau thuê ở trọ trên Thành phố Lạng Sơn để đi làm, tình cảm vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, hay cãi vã và bất đồng quan điểm. Đến tháng 08/2021 vợ chồng chuyển về chung sống với bố, mẹ tại thôn N, xã A nhưng cuộc sống không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên thân do chị La Thị G nghi ngờ anh đi ngoại tình, có lần vợ chồng cãi nhau anh đã đánh và tát chị La Thị G. Năm 2021 anh đã gửi đơn xin ly hôn ra Toà án huyện V 01 lần, được hoà giải viên tiến hành hoà giải nên anh rút đơn khởi kiện, tuy nhiên sau đó tình cảm vợ chồng không cải thiện được, ngoài ra giữa chị La Thị G và bố, mẹ anh cũng có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cách chăm sóc con nhỏ, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị La Thị G bỏ nhà đi từ cuối tháng 08/2022 đến nay không trở về nhà, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh Long Văn P yêu cầu xin ly hôn với chị La Thị G.
Về con chung: Có 01 con chung tên là Long Minh Q, sinh ngày 31/03/2020. Kể từ tháng 08/2021 khi vợ chồng về chung sống với bố, mẹ tại xã A do vợ chồng nuôi dưỡng. Từ tháng 08/2022 khi chị La Thị G đi khỏi nhà anh là người trực tiếp chăm sóc con. Khi ly hôn anh Long Văn P yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị La Thị G cấp dưỡng nuôi con chung.
Bị đơn chị La Thị G trình bày tại các bản tự khai: Thống nhất trình bày về quan hệ hôn nhân như anh Long Văn P. Trong quá trình chung sống kể từ sau khi sinh con thì vợ chồng chuyển về chung sống với gia đình chồng ở thôn N, xã A, huyện V, thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm với bố, mẹ chồng về việc chăm sóc trẻ sơ sinh, trong thời gian này anh Long Văn P không ở nhà, nên bố mẹ chồng thường chửi mắng, nói xấu chị. Ngoài ra anh Long Văn P đi ngoại tình với người khác, khi chị phát hiện thì vợ chồng xảy ra cãi nhau, chị bị anh Long Văn P đánh nhiều lần gây thương tích, đốt quần áo, tư trang của chị. Tháng 08/2021 anh Long Văn P đã viết đơn ly hôn một lần, nhưng sau đó rút đơn khởi kiện. Đến tháng 08/2022 chị đi làm, khi chị trở về thăm con thì bố, mẹ chồng không cho chị vào nhà, chửỉ mắng và đuổi chị. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh Long Văn P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn chị nhất trí.
Về con chung: Chị thống nhất với lời trình bày của anh Long Văn P về con chung. Khi ly hôn chị La Thị G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Long Minh Q. Không yêu cầu anh Long Văn P cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Long Văn P và chị La Thị G thống nhất trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại Công văn số 108/UBND ngày 18/11/2022 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện V, tỉnh Lạng Sơn về việc trả lời xác minh tình trạng hôn nhân, xác nhận Long Văn P và chị La Thị G có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là xã A), huyện V, tỉnh Lạng Sơn ngày 09/9/2019. Sau khi kết hôn anh Long Văn P và chị La Thị G chung sống một nhà, không ly thân nhưng có mâu thuẫn từ tháng 03/2020. Về con chung, tên Long Minh Q, sinh ngày 31/03/2020, hiện đang học tập, sinh sống với anh Long Văn P tại xã A, huyện V. Không bị ngược đãi, đảm bảo điều kiện sinh hoạt và học tập. Hiện nay anh Long Văn P và chị La Thị G đi làm nhưng không rõ làm ở đâu. Mức tối thiểu để chăm sóc, nuôi dưỡng, học tập và phát triển của 01 trẻ em ở độ tuổi cháu Long Minh Q tại địa phương dựa trên mức thu nhập bình quân trên đầu người là 18.000.000 đồng /1 người/1 năm.
Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tại phiên hoà giải hai bên thuận tình ly hôn và thoả thuận cho anh Long Văn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Long Minh Q, chị La Thị G không phải cấp dưỡng nuôi con. Ngày 28/11/2022 chị La Thị G có đơn trình bày thay đổi ý kiến vì cho rằng trong thời gian sau khi Toà án hoà giải vụ án anh Long Văn P ngăn cản không cho chị La Thị G thăm con, không cho đưa con con đi chơi, nên chị thay đổi yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh Long Văn P cấp dưỡng
Tại phiên toà Anh Long Văn P vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn và yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị La Thị G cấp dưỡng nuôi con.
Tại phần xét hỏi chị La Thị G đồng ý ly hôn, chấp nhận cho anh Long Văn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Long Minh Q cho đến khi con đủ 18 tuổi, chị không cấp dưỡng nuôi con. Yêu cầu anh Long Văn P đảm bảo cho chị được quyền thăm con thường xuyên.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử Thẩm phán đã xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, tiến hành tố tụng thu thập tài liệu chứng cứ và tống đạt các văn bản, quyết định đúng trình tự thủ tục tố tụng. Quá trình tiến hành tố tụng tại phiên tòa của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Long Văn P và chị La Thị G. Về con chung: Căn cứ các Điều 81, 82, 83 và 84 luật Hôn nhân gia đình Công nhận sự thoả thuận của hai bên, giao cháu Long Minh Q cho anh Long Văn P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi 18 tuổi, chị La Thị G có quyền đi lại thăm con, không ai được ngăn cản. Trường hợp cần thiết hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh Long Văn P là người dân tộc sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nhưng không xin miễn án phí nên phải chịu án phí theo quy định. Quá trình giải quyết vụ án Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan không có kiến nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Long Văn P và chị La Thị G có tổ chức cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C (nay là xã A), huyện V. Quá trình chung sống anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, hai người đã sống ly thân từ tháng 8/2022 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh anh Long Văn P xin ly hôn được chị La Thị G nhất trí, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Long Văn P và chị La Thị G.
Về con chung: Anh Long Văn P và chị La Thị G có 01 con chung là Long Minh Q, sinh ngày 31/3/2020, hiện nay cháu được gần 33 tháng. Kể từ tháng 08/2022 anh Long Văn P là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Long Minh Q, không bị ngược đãi, đảm bảo phát triển về tâm, sinh lý, nay cháu đang học lớp 2 tuổi A Trường mầm non 2 A, xã A, huyện V, có xác nhận của Hiệu trưởng nhà trường. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì “Con dưới 36 tháng tuổi phải giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thoả thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Tại phiên toà anh Long Văn P yêu cầu nuôi con được chị La Thị G đồng ý. Xét thấy sự thoả thuận của anh Long Văn P và chị La Thị G là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, do vậy Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận trên.
Về tài sản chung và nợ chung: không có, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, do vậy được chấp nhận.
Về án phí: Anh Long Văn P và chị La Thị G là người dân tộc sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà không xin miễn án phí, do vậy anh Long Văn P và chị La Thị G mỗi người phải chịu 150.000 đồng đẻ sung ngân sách Nhà nước, anh Long Văn P tự nguyện chịu thay phần tiền án phí của chị La Thị G nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 55, các Điều 81; 82; 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; 39; khoản 4 Điều 147; các Điều 235; 264; 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Long Văn P và chị La Thị G.
2. Về con chung: Công nhận sự thoả thuận của anh Long Văn P và chị La Thị G, anh Long Văn P có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Long Minh Q, sinh ngày 31/3/2020 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chị La Thị G không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị La Thị G có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết hai bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Anh Long Văn P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước. Xác nhận anh Long Văn P đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/ 0006089 ngày 14/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
Án xử công khai sơ thẩm. Các bên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện. Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn - CCTHADS huyện V, tỉnh Lạng Sơn. - UBND xã A, huyện Văn Quan, Tỉnh Lạng Sơn. (Nơi ĐKKH) - Các đương sự (Theo địa chỉ); - Lưu: HS + Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Thị Mỹ Phước |