vanban.org

Bản án 21/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Tường V đối với anh Đoàn Quốc T. Chị Đặng Thị Tường V được ly hôn anh Đoàn Quốc T.

Về con chung: Giao cháu Đoàn Thị Tường A, sinh ngày 17-5-2008 và Đoàn Thị Tường H, sinh ngày 29-9-2014 cho chị Đặng Thị Tường V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Tường V ly hôn, tranh chấp về nuôi con với Đoàn Quốc T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Tường V đối với anh Đoàn Quốc T. Chị Đặng Thị Tường V được ly hôn anh Đoàn Quốc T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH
——————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/HNGĐ-ST.
Ngày 26-4-2022.
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Minh Lý;

Ông Nguyễn Xuân Tươi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 171/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2022; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Tường V, sinh năm 1979 – Có mặt;

Địa chỉ: Khu phố G H, phường T B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Anh Đoàn Quốc T, sinh năm 1984 - Vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố A Đ, phường A T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Đặng Thị Tường V trình bày:

Chị và anh T chung sống với nhau vào năm 2006, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã A T, huyện Trảng Bàng (nay là phường A T, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới vợ chồng chung sống với mẹ anh T tại ấp A Đ, xã A T (nay là khu phố A Đ, phường A T) đến cuối năm 2007 thì vợ chồng xây nhà ra riêng trên đất của chị V tại khu phố G H, thị trấn T B (nay là phường T B). Từ khi chung sống vợ chồng đã bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm về kinh tế gia đình, anh T làm phụ hồ thu nhập không ổn định nên chỉ có một mình chị lo chi tiêu trong gia đình. Anh T bỏ về nhà mẹ ruột sống từ năm 2015 và vợ chồng ly thân đến nay. Từ khi ly thân, chị và anh T không ai đặt vấn đề đoàn tụ.

Nay chị yêu cầu được ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên: Đoàn Thị Tường A, sinh ngày 17-5-2008 và Đoàn Thị Tường H, sinh ngày 29-9-2014 hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập anh T đến Toà lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên toà nhưng anh T không đến nên không thể hiện được lời trình bày và yêu cầu của anh T.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về quyền và nghĩa vụ của bị đơn.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Tường V yêu cầu được ly hôn anh Đoàn Quốc T.

Về con chung: Giao cháu Đoàn Thị Tường A, sinh ngày 17-5-2008 và Đoàn Thị Tường H, sinh ngày 29-9-2014 cho chị V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị V không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

Chị V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: Anh Đoàn Quốc T vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh T chung sống với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A T, huyện Trảng Bàng (nay là phường A T, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh nên được thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về kinh tế gia đình và tự ly thân từ năm 2015 đến nay. Qua xác minh tại địa phương không thể hiện được nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị V và anh T. Nhưng chị V và anh T đã ly thân từ năm 2015 đến nay mà không ai đặt vấn đề đoàn tụ, đồng thời Tòa án đã nhiều lần mời anh T đến Tòa làm việc, hòa giải nhưng anh T không đến, cho thấy anh T không có thiện chí hàn gắn với chị V. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị V và anh T trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị V được ly hôn anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị V và anh T có hai con chung là cháu Đoàn Thị Tường A, sinh ngày 17-5-2008 và Đoàn Thị Tường H, sinh ngày 29-9-2014 hiện đang sống chung với chị V. Nay chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu A và cháu H. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị V và anh T ly thân, chị V là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, hiện các cháu phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần. Qua làm việc, cháu A và cháu H cũng có nguyện vọng được theo sống với chị V. Để tránh làm xáo trộn cuộc sống của hai cháu nên Hội đồng xét xử giao cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng cháu A và cháu H là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị V không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

Án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Tường V đối với anh Đoàn Quốc T. Chị Đặng Thị Tường V được ly hôn anh Đoàn Quốc T.

2. Về con chung:

Giao cháu Đoàn Thị Tường A, sinh ngày 17-5-2008 và Đoàn Thị Tường H, sinh ngày 29-9-2014 cho chị Đặng Thị Tường V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ghi nhận chị V không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị V, anh T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

4. Án phí: Chị Đặng Thị Tường V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015296 ngày 23 tháng 4 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Chị V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Báo cho chị V biết có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ