- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Ngọc T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 21/2022/HNGĐ-ST Ngày: 24/03/2022 V/v “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Hoàng
2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đào Công Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bùi Ngọc Hương - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 292/2021/TLST-HNGĐ ngày 18/11/2021 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/3/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Ngọc T, sinh năm 1994. (Có mặt)
Địa chỉ: Khóm Tây Khánh 4, phường Mỹ Hòa, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Bị đơn: Anh Đoàn Tấn Th, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Hòa Tây B, xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bùi Ngọc T trình bày: Chị T và anh Đoàn Tấn Th tự tìm hiểu, được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Định Mỹ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang ngày 05/3/2021 Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, sau đó kinh tế khó khăn, mâu thuẫn trầm trọng, thường xuyên cãi nhau, tính tình không còn phù hợp, anh Th hay cờ bạc, anh chị không còn tình cảm với nhau và đã không sống chung từ năm tháng 8/2021, từ đó tới giờ anh chị cũng không thể hàn gắn vì anh Th không thay đổi vẫn ăn chơi; nhận thấy cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh Th.
- Về con chung: Có 01 người con chung Đoàn Minh T sinh ngày 23/2/2019, cháu đang sống với anh Th từ khi không còn sống chung cho đến nay. Khi giải quyết ly hôn, chị T đồng ý để anh Th được nuôi dưỡng con chung, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Anh Đoàn Tấn Th trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để làm việc nhưng anh Th vẫn vắng mặt không lý do chính đáng nên không tiến hành hòa giải được. Tuy nhiên anh Th có gửi bản tự khai trình bày anh Th và chị T sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang ngày 05/3/2021 thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc nhưng sau đó trong cuộc sống có một vài mâu thuẫn nhỏ nhưng không đến mức phải ly hôn do còn thương vợ là chị T nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 01 người con chung Đoàn Minh T sinh ngày 23/2/2019, cháu đang sống với anh Th. Khi giải quyết ly hôn, anh Th yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết là đúng theo trình tự thủ tục và thẩm quyền, trong quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, căn cứ hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Bùi Ngọc T làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh Đoàn Tấn Th có địa chỉ: xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa hôm nay, anh Th đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ để dự phiên Tòa, nhưng anh Th vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Th.
Về nội dung: Chị Bùi Ngọc T và anh Đoàn Tấn Th sống chung với nhau vào năm 2014, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị Bùi Ngọc T, Hội đồng xét xử xét thấy vợ chồng chị T và anh Th chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu, sau đó đã xảy ra mâu thuẫn, cả hai thường xuyên cãi vã, nguyên nhân tính tình không còn phù hợp, anh Th hay cờ bạc, anh chị không còn tình cảm với nhau và đã không sống chung từ năm 08/2021, từ đó tời giờ anh chị cũng không thể hàn gắn vì anh Th không thay đổi vẫn ăn chơi; nhận thấy cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh Th. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, đã tạo điều kiện cho chị T và anh Th hàn gắn nhưng anh Th đều không đến điều này thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh Th mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Về con chung: Có 01 người con chung Đoàn Minh T sinh ngày 23/2/2019, cháu đang sống với anh Th từ khi không còn sống chung cho đến nay. Khi giải quyết ly hôn, chị T đồng ý để anh T được nuôi dưỡng con chung, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, từ khi chị T và anh Th không còn sống chung thì con chung do anh Th là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định, cuộc sống đã thích nghi với môi trường sống hiện tại và quyền lợi mọi mặt của cháu được đảm bảo. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của con, chấp nhận cho anh Th tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Th phải tạo điều kiện cho chị T được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết
Về án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Ngọc T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Ngọc T được ly hôn với anh Đoàn Tấn Th.
Giấy chứng nhận kết hôn số 04, ngày 05/3/2021 của Ủy ban nhân dân xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn đã cấp cho chị Bùi Ngọc T và anh Đoàn Tấn Th không còn giá trị pháp lý.
Về quan hệ con chung: Anh Đoàn Tấn Th tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Đoàn Minh T, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị T không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng chị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét
Về nợ chung: Ghi nhận chị T và anh Th xác định không có nợ chung nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh, chị trong thời kỳ sống chung thì chị T và anh Th vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
Về án phí: Chị Bùi Ngọc T phải chịu án phí Hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 0008712 ngày 18/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn; - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn; - Các đương sự; - Lưu Hồ sơ; - Lưu VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thu Hằng |