vanban.org

Bản án 21/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lăng Thuý Hằng được ly hôn anh Nguyễn Tùng Nhâm (Tức Nguyễn Tùng Ly).

Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Tùng Nhâm (tức Nguyễn Tùng Ly) được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Minh Hùng, sinh ngày 11/5/2015 đến khi cháu Hùng thành niên. Chị Hằng không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh Nhâm không có yêu cầu. Sau khi ly hôn người không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v: Ly hôn, con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lăng Thuý Hằng được ly hôn anh Nguyễn Tùng Nhâm (Tức Nguyễn Tùng Ly).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH SƠN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09/6/2022
V/v: Ly hôn, con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên Hoà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Quảng và ông Đỗ Chí Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 27/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2022 giữa các đương sự:

Nguyªn ®¬n: Chị Lăng Thuý Hằng, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn 4, xã Minh Hưng, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: Anh Nguyễn Tùng Nhâm (tức Nguyễn Tùng Ly), sinh năm 1982.

Địa chỉ: Tổ 4, phố Hoàng Sơn, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

(Chị Hằng và anh Nhâm đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn - chị Lăng Thuý Hằng trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2010 chị Lăng Thuý Hằng và anh Nguyễn Tùng Nhâm (tức Nguyễn Tùng Ly) có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Minh Hưng, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian đến năm 2020 thì nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không hoà hợp, anh Nhâm đã về Phú Thọ sinh sống và vợ chồng anh chị sống ly thân từ đó đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Hằng làm đơn xin ly hôn anh Nhâm.

Về con chung: Chị Lăng Thuý Hằng xác nhận chị và anh Nguyễn Tùng Nhâm (tức Nguyễn Tùng Ly) có 01 con chung là Nguyễn Minh Hùng, sinh ngày 11/5/2015, hiện nay cháu Hùng đang sống cùng anh Nhâm. Ly hôn chị Hằng tự nguyện giao cháu Hùng cho anh Nhâm tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng chị Hằng sẽ cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Về tài sản chung, về nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Chị Lăng Thuý Hằng khẳng định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn anh Nguyễn Tùng Nhâm (tức Nguyễn Tùng Ly) quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án có gửi các thông báo và giấy triệu tập tuy nhiên anh Nhâm đều không đến Toà án làm việc. Để có đầy đủ tài liệu chứng cứ giải quyết vụ án đảm bảo công bằng khách quan, Toà án đã tiến hành lấy lời khai của mẹ đẻ anh Nhâm là bà Nguyễn Thị Minh Xuân, xác minh tại địa phương về nơi ĐKNKTT, chỗ ở hiện nay, quan hệ hôn nhân và điều kiện chăm sóc con chung của anh Nhâm, lấy lời khai thể hiện quan điểm của cháu Nguyễn Minh Hùng. Kết quả thu thập chứng cứ đều thể hiện: Anh Nguyễn Tùng Nhâm (tức Nguyễn Tùng Ly), sinh năm 1982 hiện nay có đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay cùng mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Minh Xuân tại tổ 4, phố Hoàng Sơn, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Năm 2010 chị Lăng Thuý Hằng và anh Nguyễn Tùng Nhâm (tức Nguyễn Tùng Ly) tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Minh Hưng, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Sau khi kết hôn vợ chồng anh Nhâm chị Hằng sinh sống làm ăn ở miền Nam, quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, không tin tưởng nhau. Đến năm 2020 anh Nhâm đã đưa con trai về Phú Thọ sinh sống cùng bà Xuân. Anh Nhâm và chị Hằng có 01 con chung là Nguyễn Minh Hùng, sinh ngày 11/5/2015, hiện nay cháu Hùng đang sống cùng anh Nhâm và bà Xuân, hàng ngày bà Xuân đưa đón cháu Hùng đi học còn anh Nhâm làm nghề lái xe taxi ít khi ở nhà. Anh Nhâm hiện nay có thu nhập bình quân 8 đến 9 triệu/tháng. Anh Nhâm vẫn thường xuyên về thăm con và hàng tháng gửi tiền nuôi con cho bà Xuân.

Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã nhiều lần gửi giấy báo giấy triệu tập cho anh Nhâm, bà Xuân đều giao lại cho anh Nhâm. Anh Nhâm có trao đổi lại với bà Xuân là chị Hằng làm đơn xin ly hôn anh Nhâm hoàn toàn nhất trí, anh Nhâm cũng xin được nuôi cháu Hùng và không yêu cầu chị Hằng phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nhâm cũng không có yêu cầu gì về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng.Tuy nhiên hiện nay do bận công việc anh Nhâm không đến Toà án làm việc được nên anh Nhâm đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh Nhâm.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 19/5/2022. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lăng Thuý Hằng. Xử cho chị Hằng được ly hôn anh Nhâm. Về con chung: Giao cho anh Nhâm được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Minh Hùng, sinh ngày 11/5/2015 đến khi con chung thành niên. Chị Hằng không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh Nhâm không có yêu cầu. Về án phí: Chị Hằng phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Hằng khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn anh Nhâm, đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nhâm có nơi ĐKNKTT hiện nay tại thị trấnThanh Sơn, huyện Thanh Sơn vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Lăng Thúy Hằng có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 19/5/2022, anh Nguyễn Tùng Nhâm được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã có công văn gửi đến Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an để xác định anh Nhâm có xuất cảnh ra nước ngoài không, tuy nhiên phía Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp thông tin là anh Nhâm hiện tại không có thông tin xuất nhập cảnh. Anh Nhâm không đến Tòa án làm việc nên đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Hằng, anh Nhâm là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2010 chị Lăng Thuý Hằng và anh Nguyễn Tùng Nhâm có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Minh Hưng, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Về tình cảm vợ chồng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, lời khai của chị Hằng, kết quả thu thập chứng cứ tại gia đình và địa phương đều thể hiện sau khi kết hôn vợ chồng anh Nhâm và chị Hằng sinh sống làm ăn ở miền Nam. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, không tin tưởng nhau. Đến năm 2020 anh Nhâm đã đưa con trai về Phú Thọ sinh sống cùng bà Xuân. Vợ chồng anh Nhâm chị Hằng chính thức ly thân từ năm 2020 đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị Hằng làm đơn xin ly hôn anh Nhâm. Quá trình giải quyết vụ án anh Nhâm có biết việc Toà án triệu tập và thông báo đến Toà án tiến hành hoà giải nhưng anh Nhâm không đến. Qua trao đổi với bà Xuân anh Nhâm cũng thể hiện quan điểm là nhất trí ly hôn, không có mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Nhâm và chị Hằng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy xử cho chị Hằng được ly hôn anh Nhâm là phù hợp Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Lăng Thuý Hằng và anh Nguyễn Tùng Nhâm có 01 con chung là Nguyễn Minh Hùng, sinh ngày 11/5/2015, hiện nay cháu Hùng đang sống cùng anh Nhâm. Ly hôn chị Hằng tự nguyện giao cháu Hùng cho anh Nhâm tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng chị Hằng sẽ cấp dưỡng theo khả năng của mình. Quan điểm của anh Nhâm và gia đình cũng tiếp tục xin được nuôi cháu Hùng và không yêu cầu chị Hằng phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét về điều kiện nuôi con của anh Nhâm thấy rằng: Hiện nay anh Nhâm có nơi ĐKHK rõ ràng, có công việc và thu nhập đảm bảo được cuộc sống và sự phát triển bình thường của cháu Hùng. Cháu Hùng hiện đang học tiểu học tại thị trấn Thanh Sơn và cũng có nguyện vọng được ở cùng bố và bà nội. Chị HằngVì vậy cần giao con chung là cháu Hùng cho anh Nhâm tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Chị Lăng Thuý Hằng khẳng định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Tùng Nhâm vắng mặt không có quan điểm nên HĐXX không xem xét.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí: Chị Hằng phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lăng Thuý Hằng được ly hôn anh Nguyễn Tùng Nhâm (Tức Nguyễn Tùng Ly).

2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Tùng Nhâm (tức Nguyễn Tùng Ly) được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Minh Hùng, sinh ngày 11/5/2015 đến khi cháu Hùng thành niên. Chị Hằng không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh Nhâm không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền qua lại thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lăng Thuý Hằng phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Hằng đã nộp đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số AA/2020/0006712 ngày 14/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn. Nay chuyển thành án phí.

4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi các đương sự thường trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ