vanban.org

Bản án 21/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do mâu thuẫn về kinh tế

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị T đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Hữu K (theo giấy chứng nhận kết hôn số 88/KH, quyển số 01/2003 ngày 20/8/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Bình An, huyện Dĩ An (nay là phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng).

Về con chung: Các con đã trƣởng thành, các đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do mâu thuẫn về kinh tế — án hôn nhân và gia đình — "Phan Trị Trơn với Nguyễn Hữu Kiệt"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị T đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Hữu K (theo giấy chứng nhận kết hôn số 88/KH, quyển số 01/2003 ngày 20/8/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Bình An, huyện Dĩ An (nay là phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 21/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 25/3/2022
Về việc tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung

2. Bà Phạm Tú Nhi

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 435/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 28/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/3/2022, giữa các đƣơng sự:

-Nguyên đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm 1970; Thƣờng trú: Số 127A/5, khu phố N, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1964; Thƣờng trú: Số 127A/5, khu phố N, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.

Bà Phan Thị T và ông Nguyễn Hữu K có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/01/2021, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Phan Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị T và ông Nguyễn Hữu K tự nguyện tìm hiểu, tổ chức đám cƣới và chung sống với nhau từ tháng 9/1991 nhƣng chƣa đăng ký kết hôn. Đến năm 2003 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình An, huyện Dĩ An (nay là phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An) tỉnh Bình Dƣơng theo giấy đăng ký kết hôn số 88/KH, quyển số 01/2003 ngày 20/8/2003. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đƣợc một thời gian ngắn, đến khi sinh đứa con đầu tiên năm 1992 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân mâu thuẩn là do ông Nguyễn Hữu K thƣờng xuyên ăn nhậu, không lo làm ăn phụ giúp kinh tế gia đình. Trong những lần tranh cãi nhƣ vậy, ông K thƣờng dùng những lời lẽ thô tục và đánh đập bà Phan Thị T.

Quá trình chung sống, bà Phan Thị T đã 02 lần làm đơn xin ly hôn vào năm 1999 nộp đơn tại khu phố Nội Hóa 01 và năm 2021 nộp đơn tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, nhƣng vì các con nên bà T đã rút đơn để vợ chồng về đoàn tụ, xây dựng gia đình hạnh phúc cùng nuôi dạy các con. Tuy nhiên, ông K không thay đổi tính tình, vẫn thƣờng xuyên ăn nhậu, không lo lắng làm ăn. Vì vậy, vợ chồng đã ly thân 02 năm nay.

Nay bà Phan Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Hữu K.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 19/10/1992 và Nguyễn Hữu H, sinh ngày 22/12/2003. Hiện nay các con đã trƣởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Hữu K trình bày: Ông Nguyễn Hữu K thống nhất với lời trình bày của bà Phan Thị T về quan hệ hôn nhân và con chung. Về mâu thuẩn vợ chồng, ông Nguyễn Hữu K thừa nhận sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đến đầu năm 2021 cuộc sống có mâu thuẫn về vấn đề kinh tế, do thu nhập không ổn định nên vợ chồng có cải nhau. Tuy nhiên, ông Nguyễn Hữu K xác định vẫn còn tình cảm với bà Phan Thị T nên trƣớc yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị T thì ông K không đồng ý.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 19/10/1992 và Nguyễn Hữu H, sinh ngày 22/12/2003. Hiện nay các con đã trƣởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành và tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của bà Phan Thị T thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn là ông Nguyễn Hữu K có địa chỉ tại số 127A/5, khu phố Nội Hóa 1, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng nên Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An thụ lý giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị T và ông Nguyễn Hữu K là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình An, huyện Dĩ An (nay là phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng theo giấy chứng nhận kết hôn số số 88/KH, quyển số 01/2003 ngày 20/8/2003 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Bà Phan Thị T và ông Nguyễn Hữu K đều thống nhất khai nhận vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1991 và đăng ký kết hôn vào năm 2003. Bà T xác định sau nhiều năm chung sống, vợ chồng bà đã xảy ra những mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống; tính tình không hợp, ông K thƣờng xuyên ăn nhậu, không lo làm ăn, không phụ giúp trong vấn đề kinh tế trong gia đình. Trong những lần vợ chồng tranh cãi, ông K thƣờng dùng những lời lẽ thô tục và đánh đập bà T. Vợ chồng đã sống ly thân 02 năm nay. Ông K thừa nhận từ năm 2021 đến nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế, do thu nhập không ổn định nên vợ chồng có cải nhau, vợ chồng sống ly thân đã 02 năm nay. Ông K xác định vẫn còn tình cảm với bà T và vì các con nên không chấp nhận ly hôn nhƣng trong thời gian vợ chồng sống ly thân đến nay ông K cũng không có hành động nào tích cực để h n gắn tình cảm vợ chồng. Xét mục đích của hôn nhân là nh m xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Thực tế cuộc sống hôn nhân giữa bà T và ông K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, vợ chồng không còn tình cảm và đã sống ly thân. Bà T đã hai lần nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn và đã rút đơn để tạo cơ hội cho vợ chồng hàn gắn nhƣng không đƣợc. Do đó, việc bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông K là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống bà Phan Thị T và ông Nguyễn Hữu K có 02 con chung tên làNguyễn Thị Kim A, sinh ngày 19/10/1992 và Nguyễn Hữu H, sinh ngày 22/12/2003. Hiện nay các con đã trƣởng thành, các đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Từ những nhận định trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 4 Điều 147, 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị T đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Hữu K (theo giấy chứng nhận kết hôn số 88/KH, quyển số 01/2003 ngày 20/8/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Bình An, huyện Dĩ An (nay là phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng).

2. Về con chung: Các con đã trƣởng thành, các đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị T chịu 300.000 đồng án phí ly hôn đƣợc khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003279 ngày 14/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

5. Án xử công khai, tuyên án có mặt bà Phan Thị T và ông Nguyễn Hữu K.

6. Các đƣơng sự có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ