- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - anh Nguyễn Xuân T.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2022/HNGĐ-ST Ngày: 18-02-2022 V/v “Tranh chấp về xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Phi Công
2. Ông Nguyễn Văn Hiếu
- Th ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Th ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ- Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 746/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18/01/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm: 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: số 14 Hoàng D, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
2. Bị đơn: Chị Lê Thị Thùy A, sinh năm: 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã Xuân T, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Xuân T trình bày: Vào năm 2009, anh và chị Lê Thị Thùy A quen biết và chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn khi cả hai đang học tại trường Đại học công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, cơ sở 2 tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nhưng do tuổi còn trẻ, kinh nghiệm sống còn hạn chế nên anh chị đã sinh ra cháu Lê Bảo Th, sinh ngày: 06/10/2010.
Do điều kiện và khả năng kinh tế khó khăn vì lúc đó cả hai đang đi học và phụ thuộc kinh tế vào gia đình nên anh chị quyết định đưa cháu Th về cha mẹ ruột của anh T là ông Nguyễn X, bà Trịnh Thị Kim Ng để nuôi dưỡng tại địa chỉ số 14 Hoàng D, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Sau đó anh và chị A không còn chung sống với nhau nữa, còn cháu Lê Bảo Th sống cùng với anh và cha mẹ ruột của anh. Cháu Th học mẫu giáo, lên tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5 tại Trường tiểu học Phước L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hiện nay cháu Th đang học lớp 6 tại trường Trung học cơ sở Bùi Thị X thuộc phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Nhưng trong giấy khai sinh của cháu Th không có tên của cha ruột là anh Nguyễn Xuân T, do vậy ảnh hưởng đến quyền lợi của cháu.
Nay anh Nguyễn Xuân T yêu cầu Tòa án xác định cháu Lê Bảo Th, sinh ngày: 06/10/2010 là con đẻ của anh Nguyễn Xuân T để anh đăng ký lại khai sinh cho cháu Th, bảo đảm các quyền lợi của cháu Th theo quy định của pháp luật.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Lê Thị Thùy A được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án nhưng chị Lê Thị Thùy A vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án không thu thập được ý kiến của chị Lê Thị Thùy A đối với yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Xuân T.
Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Th ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xác định anh Nguyễn Xuân T là cha đẻ cháu Lê Bảo Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Tòa án: Anh Nguyễn Xuân T khởi kiện chị Lê Thị Thùy A để xác định cha cho con. Do đó, quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về xác định cha cho con” quy định tại Điều 89 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chị Lê Thị Thùy A có hộ khẩu tại ấp A, xã Xuân T, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, được quy định tại khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 101 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về tư cách tham gia tố tụng: Anh Nguyễn Xuân T khởi kiện chị Lê Thị Thùy A nên xác định anh T là nguyên đơn, chị An là bị đơn theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Xuân T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; chị Lê Thị Thùy A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Xuân T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự và xét xử vắng mặt chị Lê Thị Thùy A theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Anh Nguyễn Xuân T yêu cầu xác định anh là cha ruột của cháu Lê Bảo Th, sinh ngày: 06/10/2010 do chị Lê Thị Thùy A sinh tại Trạm y tế xã Xuân T, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Tại giấy trích lục khai sinh số 03/TLKS-BS ngày 02/01/2019 của UBND xã Xuân T thể hiện cháu Lê Bảo Th, sinh ngày: 06/10/2010 có mẹ là Lê Thị Thùy A nhưng không có tên người cha (giấy khai sinh số 418, quyển số 03/2005 ngày 26/8/2015 tại UBND xã Xuân T, huyện X, tỉnh Đồng Nai).
Mặt khác, từ nhỏ, cháu Lê Bảo Th sinh sống cùng với anh Nguyễn Xuân T cùng với cha mẹ của anh T là ông Tịnh, bà Ng tại địa chỉ số 14 Hoàng D, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa cho đến nay, hiện cháu Th đang học lớp 6 tại Trường trung học cơ sở Bùi Thị X tại phường V, thành phố Nha T, tỉnh Khánh Hòa.
Tại kết quả phân tích ADN của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền- chi nhánh phía Nam kết luận: anh Nguyễn Xuân T và cháu Lê Bảo Th có quan hệ huyết thống cha- con. Như vậy, yêu cầu của anh Nguyễn Xuân T xác định anh là cha ruột của cháu Lê Bảo Th, sinh ngày: 06/10/2010 là có căn cứ.
Về án phí: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Do yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Xuân T được chấp nhận nên chị Lê Thị Thùy A phải chịu án phí.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, Điều 35, Khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 89; khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - anh Nguyễn Xuân T.
1. Xác định cháu Lê Bảo Th, sinh ngày: 06/10/2010, có họ và tên người mẹ Lê Thị Thùy A - là con ruột của anh Nguyễn Xuân T, sinh ngày: 29/8/1989; số thẻ căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; địa chỉ tại số 14 Hoàng D, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
2. Về án phí: Chị Lê Thị Thùy A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
3. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Xuân T, chị Lê Thị Thùy A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - UBND cấp xã; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Phượng |