vanban.org

Bản án 21/2022/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị T.

2/. Buộc ông Lê Minh N, bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị T số tiền 47.500.000 (Bốn mười bảy triệu năm trăm ngàn đồng). 3/. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Võ Thi T - Lê Minh N"
  • Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG
&&&

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/DS-ST
Ngày: 7/3/2022
“V/v tranh chấp đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Viết Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Sơn.

2/ Ông Lâm Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 7 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 267/2021/TLST-DS, ngày 27 tháng 10 năm 2021, về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 9/2022/QĐXXST-DS, ngày 18 tháng 01 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2022/QĐST-DS ngày 16/02/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Võ Thị T , sinh năm 1961

HKTT: số 488/1, ấp V, xã O, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

Chỗ ở hiện nay: ấp H, xã O, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị đơn:

1/. Lê Minh N (vắng mặt).

2/. Nguyễn Thị P (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp V, xã O, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 15/10/2021, nguyên đơn bà Võ Thị T trình bày: Ngày 22/04/2021 ông Lê Minh N có làm tờ cam kết nợ bà số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), sau đó vợ chồng ông N, bà Nguyễn Thị P có trả cho bà được 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Bà có N lần đến nhà vợ chồng ông N để thỏa thuận việc vợ chồng ông N trả cho bà số tiền nợ còn lại nhưng vợ chồng ông N, bà P không trả. Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách giải quyết buộc vợ chồng ông N, bà P trả cho bà 47.500.000 đồng.

- Bị đơn ông Lê Minh N, bà Nguyễn Thị P trình bày: Ông, bà là vợ chồng, ông, bà thừa nhận còn thiếu bà Võ Thị T số tiền mượn 47.500.000 đồng như bà T trình bày là đúng. Ông, bà đồng ý trả số tiền trên, nhưng hiện nay do gia đình đang gặp kinh tế khó khăn nên xin trả dần mỗi vụ/04 tháng/2.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên đơn khởi kiện.

Các bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông, bà vắng mặt không có lý do, không vì trở ngại khách quan hay trường hợp bất khả kháng, nguyên đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt những người này. Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn.

Bà Võ Thị T và vợ chồng ông Lê Minh N, bà Nguyễn Thị P có thỏa thuận việc cho mượn tiền, sau đó các bên tranh chấp, bà T khởi kiện yêu cầu bên ông N trả lại tài sản, các đương sự cư trú tại huyện Kế Sách nên Tòa án nhân dân huyện Kế Sách thụ lý, giải quyết vụ án về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản” là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bà Võ Thị T xác định bà có cho vợ chồng ông N mượn tiền, tại buổi hòa giải, vợ chồng ông, bà P thừa nhận có thiếu số tiền mượn 47.500.000 đồng của bà T vào năm 2021. Đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Khi tham gia giao dịch các bên đều có năng lực hành vi, tự nguyện giao kết, thỏa thuận với nhau, giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Bên ông N, bà P là người có lỗi nên phải có trách nhiệm trả cho bà T số tiền nêu trên theo quy định tại Điều 166, Điều 280, Điều 351, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ông N, bà P xin trả dài hạn, bà T không đồng ý. Vì vậy, yêu cầu này không có căn cứ để chấp nhận. Vấn đề này sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành án.

Về án phí: Ông N, bà P phải chịu án phí là 2.375.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bà T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 280, Điều 351, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị T.

2/. Buộc ông Lê Minh N, bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị T số tiền 47.500.000 (Bốn mười bảy triệu năm trăm ngàn đồng).

3/. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4/. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Lê Minh N, bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí là là 2.375.000 đồng (Hai triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

Bà Võ Thị T không phải chịu án phí (bà T được miễn tạm ứng án phí).

5/. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

6/. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Cỡ chữ