vanban.org

Bản án 21/2022/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Kon Tum Tuyên án 12/09/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn – anh Đinh Tuấn A.

Chấp nhận một phần kháng cáo của người có quyền và nghĩa vụ liên quan – bà Phạm Thị X. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn – ông Đỗ Phú N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Đinh Tuấn A - Đỗ Phú N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn – anh Đinh Tuấn A.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH K T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/DS-PT
Ngày : 12/9/2022
“V/v Yêu cầu bồi thường thiệt hại do
sức khỏe bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH K T

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Ông Huỳnh Nguyên.

Các Thẩm phán : Bà Dương Thị Vân và ông Nguyễn Minh Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh K T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K T: Bà Phan Thị Tứ – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 9 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh K T xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2022/TLPT-DS ngày 08/8/2022 về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2022/DS-ST ngày: 30/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Q T, tỉnh K T bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 26/2022/QĐXX-PT ngày 25 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đinh Tuấn A, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Số 618/3 T P, phường Q T, thành phố Q T, tỉnh K T.

2. Bị đơn: Ông Đỗ Phú , sinh năm 1953;

Địa chỉ: Số 01 Lý Thường Kiệt, phường Q T, thành phố Q T, tỉnh K T. Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1964

Người đại diện theo ủy quyền của anh Đinh Tuấn A và bà Phạm Thị X: Ông Đinh Viết S, sinh năm 1957;

Cùng địa chỉ: Số 618/3 T P, phường Q T, thành phố Q T, tỉnh K T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn anh Đinh Tuấn A và người đại diện theo ủy quyền của anh Đinh Tuấn A trình bày:

Vào khoảng 20h 23 phút ngày 15/9/2018 thì anh Đỗ Phú Trường A1 cùng với ông Đỗ Phú N, bà Phạm Thị Minh T, anh Nguyễn Văn O, anh Phạm Dương Q Vinh chạy vào nhà đánh cha mẹ của anh Đinh Tuấn A. Anh Đinh Tuấn A chạy tới can ngăn liền bị ông Đỗ Phú N xông tới đánh đấm liên tục vào vùng mặt của anh Đinh Tuấn A, hậu quả gây thương tích cho Đinh Tuấn A với tỷ lệ thương tích là 09%, lỗi hoàn toàn do ông N gây ra.

Vì vậy, anh Đinh Tuấn A yêu cầu Tòa án buộc ông Đỗ Phú N phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe của anh Đinh Tuấn A bị ông N xâm phạm, với tổng số tiền phải bồi thường là 64.799.000 đồng;Trong đó tiền chi phí cho việc cấp cứu điều trị là 2.999.000 đồng, tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, giảm sút là 2.800.000 đồng, tiền chi phí cho người chăm sóc bị mất thu nhập là 9.000.000 đồng, tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm là 50.000.000 đồng.

Bị đơn ông Đỗ Phú N trình bày hồ sơ vụ án và tại phiên tòa:

Ông Đỗ Phú N thừa nhận có sự việc ngày 15/9/2018 ông đánh anh Đinh Tuấn A, kết luận giám định thương tích của Đinh Tuấn A với tỷ lệ thương tích 09% , bản thân ông đã bị xử phạt hành chính về hành vi gây thương tích cho Đinh Tuấn A. Tuy nhiên, ông Đỗ Phú N đồng ý bồi thường tiền chi phí cho việc cấp cứu điều trị vào ngày 15/9/2022 có tài liệu chứng cứ hợp lệ, còn những khoản yêu cầu khác ông không đồng ý. Vì ông cho rằng sau khi sự việc xảy ra thì anh Đinh Tuấn A vẫn sinh hoạt bình thường, thương tích do vết thương cũ, nhẹ nên không cần phải có người chăm sóc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Phạm Thị X và người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị X trình bày: Bà Phạm Thị X (mẹ anh Đinh Tuấn A) là người trực tiếp chăm sóc anh Đinh Tuấn A trong thời gian điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh K T, từ ngày 15/9/2018 đến ngày ra viện là ngày 03/10/2018 (18 ngày). Nay bà yêu cầu ông Đỗ Phú N phải bồi thường chi phí cho người chăm sóc là bà bị mất thu nhập thực tế, với số tiền là 500.000 đồng/ngày x 18 ngày = 9.000.000 đồng, theo như yêu cầu của nguyên đơn.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2022/DS-ST ngày: 30/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Q T, tỉnh K T quyết định:

Căn cứ vào khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Đỗ Phú N phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Đinh Tuấn A, với tổng số tiền là 4.489.000 (Bốn triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/7/2022, ông Đỗ Phú N kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và hủy án sơ thẩm.

Ngày 14/7/2022, nguyên đơn – anh Đinh Tuấn A và người có quyền, nghĩa vụ liên quan – bà Phạm Thị X kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi một phần đơn khởi kiện: giảm yêu cầu bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm từ 50 triệu đồng xuống thành 40 triệu đồng, các yêu cầu khác và đơn kháng cáo giữ nguyên. Bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của người có quyền nghĩa vụ liên quan giữ nguyên kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K T phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Anh Đinh Tuấn A khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Phú N phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là có căn cứ, đúng theo quy định tại Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự 2015.

Đối với kháng cáo của anh Đinh Tuấn A: số tiền chi phí cho việc cấp cứu điều trị: 2.999.000 đồng là có căn cứ chấp nhận. Số tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất: 2.800.000 đồng, nguyên đơn không cung cấp được chứng từ hợp lệ, nên cấp sơ thẩm không chấp nhận là đúng pháp luật. Số tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc: anh Tuấn A nhập viện điều trị nên cần có người chăm sóc, do đó cần chấp nhận mức: 300.000 đồng/ngày x 7 ngày= 2.100.000 đồng. Về tiền tổn thất tinh thần: anh Tuấn A bị thương tích 9%, do đó mức bồi thường là 5,5 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định mới phù hợp, cụ thể: 5,5 tháng x 1.490.000 đồng = 8.195.000 đồng. Tổng cộng: ông Đỗ Phú N phải bồi thường số tiền: 13.294.000 đồng

Về kháng cáo của ông N: Không có căn cứ chấp nhận.

Do đó: đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật TTDS: chấp nhận một phần đơn kháng cáo của anh Đinh Tuấn A và bà Phạm Thị X, không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Đỗ Phú N, sửa bản án sơ thẩm: yêu cầu ông Đỗ Phú N phải bồi thường cho anh Đinh Tuấn A số tiền: 13.294.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K T, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các đương sự được lập đúng theo thủ tục và trong hạn luật định, nên được HĐXX xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: cấp sơ thẩm đã xác định đúng theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét kháng cáo của các đương sự:

Tại phiên tòa, bị đơn - ông Đỗ Phú N thừa nhận có sự việc: tối ngày 15/9/2018 ông đấm vào vùng mặt của anh Đinh Tuấn A, hậu quả: Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 145/TgT-TTPY ngày 22/01/2019 của Trung T pháp y – Sở y tế tỉnh K T kết luận: Anh Đinh Tuấn A có tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 09%. Do đó, anh Đinh Tuấn A khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Phú N phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là có căn cứ, đúng theo quy định tại Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự 2015.

Các đương sự đều kháng cáo về mức bồi thường. Trên cơ sở các yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Tuấn A, Hội đồng xét xử xét thấy:

+ Về chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại:

Anh Đinh Tuấn A cung cấp các hóa đơn mua thuốc, hóa đơn điều trị với tổng số tiền 2.999.000 đồng, đây là khoản tiền bệnh nhân phải trả cho bệnh viện sau khi được bảo hiểm y tế trừ một phần chi phí. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu: ông Đỗ Phú N phải bồi thường cho anh Đinh Tuấn A số tiền 2.999.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với các khoản tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, giảm sút là 100.000 đ/ ngày x 28 ngày = 2.800.000 đồng mà anh Đinh Tuấn A yêu cầu, nhưng anh Đinh Tuấn A không cung cấp được chứng từ hợp lệ thể hiện các chi phí này. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này là có căn cứ.

+ Về phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị: anh Đinh Tuấn A phải nhập viện để điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh K T từ ngày 26/9/2018 đến 03/10/ 2018 thời gian điều trị là 07 ngày (bl 49). Vì anh Tuấn A phải nhập viện nên cần có người thân chăm sóc. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu bồi thường thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc – bà Phạm Thị X. Tuy nhiên, bà X cho rằng thu nhập thực tế của bà là 500.000 đồng/ngày là không có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, tại công văn số 1457/CCT-NV ngày 25/4/2022, Chi cục thuế thành phố KT cung cấp nội dung: từ thời điểm ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2018 hộ kinh doanh Phạm Thị X kê khai doanh thu tính thuế khoán là 4.280.000 đồng. Bà X không cung cấp được tài liệu thể hiện thu nhập hàng tháng của mình, do đó, Hội đồng xét xử áp dụng mức thu nhập trung bình tại địa phương là 200.000 đồng/ngày để làm căn cứ tính thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc – bà Phạm Thị X. Cụ thể: 07 ngày x 200.000 đồng/ngày = 1.400.000 đồng.

+ Về tổn thất tinh thần: Theo quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa do sức khỏe bị xâm phạm là 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Anh Đinh Tuấn A bị gãy xương hàm dưới vùng góc hàm bên trái, thương tích 9%. Cấp sơ thẩm cho rằng: “Mặc dù thương tích của anh Đinh Tuấn A 09% bị gãy cũ xương hàm dưới, nhưng đây là do có tác động của ông Đỗ Phú N gây nên tổn thương nên mức độ tổn thất về tinh thần của anh Anh là không đáng kể” và chấp nhận mức yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần là 01 tháng lương cơ sở là không thuyết phục và chưa tương xứng với những tổn thất mà anh Đinh Tuấn A phải chịu. Cấp phúc thẩm thấy rằng phải chấp nhận mức bồi thường là 05 tháng lương cơ sở mới tương xứng với mức thương tích 9% của anh Đinh Tuấn A. Cụ thể: bù đắp tổn thất về tinh thần = 05 tháng x 1.490.000 đồng = 7.450.000 đồng.

Đối với kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Phú N đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và hủy bản án sơ thẩm, với lý do cấp sơ thẩm vi phạm quyền tự định đoạt của nguyên đơn quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, nên cần chấp nhận một phần đơn kháng cáo của nguyên đơn anh Đinh Tuấn A, người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị X, không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Đỗ Phú N – Sa một phần bản án sơ thẩm, theo hướng: chấp nhận một phần đơn khởi kiện của anh Đinh Tuấn A, buộc ông Đỗ Phú N phải bồi thường cho anh Đinh Tuấn A số tiền: 2.999.000 đồng + 1.400.000 đồng + 7.450.000 đồng = 11.849.000 đồng

Về án phí dân sự:

Các đương sự được miễn án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

- Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn – anh Đinh Tuấn A.

- Chấp nhận một phần kháng cáo của người có quyền và nghĩa vụ liên quan – bà Phạm Thị X.

- Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn – ông Đỗ Phú N.

- Sa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 17/2022/DS-ST ngày: 30/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Q T, tỉnh K T.

Xử:

Căn cứ vào khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Đỗ Phú N phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Đinh Tuấn A, với tổng số tiền là 11.849.000 đồng (Mười một triệu, tám trăm bốn mươi chín nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Áp dụng Điều 144; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12; các khoản 4, 9 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và S dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn toàn bộ án tiền án phí dân sự cho các đương sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (12/9/2022).

Cỡ chữ