- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân Q - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân Q phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”; Xử phạt bị cáo Bùi Xuân Q 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2021/HS-ST Ngày 05/02/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tú.
Bà Đồng Thị Thanh Hương.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Lan Hương, Thư ký - Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Mai Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2021/HSST ngày 05 tháng 01 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2021và Thông báo thay đổi lịch xét xử số: 05/TB-TA ngày 29 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Xuân Q, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1982, tại Ninh Bình; Trú tại: Xóm 1, thôn L, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Bùi Văn S và bà Tống Thị C; Vợ: Đinh Thị Y; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: chưa có.
Nhân thân bị cáo: Tại bản án số 05/HS-ST ngày 27/03/2003 Tòa án Quân sự khu vực quân khu thủ đô Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/8/2020 cho đến nay, (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Văn Sỹ, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Bình, (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Trần Việt T, sinh năm 1993; Trú tại: phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (Vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Quốc C, sinh năm 1976; Trú tại: thôn Hậu, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (Vắng mặt)
Người làm chứng:
1. Chị Đinh Thị Y, (Có mặt).
2. Anh Hà Đăng T, (Vắng mặt).
3. Anh Dương Công C, (Vắng mặt).
4. Anh Vũ Đăng Đ, (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Xuân Q có tiền sử nghiện rượu và phải đi điều trị tại bệnh viện tâm thần tỉnh Ninh Bình do bị rối loạn, loạn thần do rượu từ năm 2017. Khoảng 06 giờ ngày 15/8/2020 Bùi Xuân Q mua 3.000 đồng tiền rượu ở quán tạp hóa gần nhà để uống, sau khi uống xong Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda wave Biển kiểm soát 35H1-..23 chở vợ là chị Đinh Thị Y, sinh năm 1986 và con là Bùi Xuân L, sinh năm 2010 xuống nhà ông bà ngoại ở phường P, thành phố N để gửi cháu L. Q điều khiển xe mô tô đi theo hướng Hà Nội - Thanh Hóa trên đường T, khi đi đến ngã tư Kỳ Lân thuộc phường T, thành phố N, Q nhìn thấy hai đồng chí Cảnh sát giao thông mặc quân phục điều khiển xe mô tô đặc chủng Biển kiểm soát 35..-000.87, lúc này người điều khiển xe mô tô là anh Nguyễn Quốc C ngồi phía sau là đồng chí Trần Việt T đang trên đường đi đến ngã tư Ninh Phúc, thành phố N để phân đường, giải tỏa ách tách giao thông theo lệnh của chỉ huy đội và kế hoạch số 93 ngày 14/8/2020 của Lãnh đạo Công an thành phố N. Do đã uống rượu không làm chủ được bản thân nên khi thấy hai đồng chí Cảnh sát giao thông Q liền bấm còi, rú ga liên tục rồi điều khiển xe mô tô phóng nhanh, lạng lách vượt xe mô tô do đồng chí C điều khiển, rồi lại cho xe chạy phía sau để trêu chọc, khi đồng chí C điều khiển xe mô tô đến ngã tư Tràng An thuộc phố T, phường T, thành phố N có tín hiệu đèn đỏ nên đồng chí C dừng xe mô tô trước vạch sơn và đậu sát vỉa hè bên phải theo hướng Hà Nội – Thanh Hóa, lúc này Q điều khiển xe phía sau đi đến và dừng xe cách xe mô tô của đồng chí C và đồng chí T khoảng 02m, Quân tiếp tục bấm còi liên tục gây sự chú ý cho đồng chí C và đồng chí T, thấy vậy đồng chí T ngồi sau có quay sang nhìn liền bị Q chửi “Đm chúng mày nhìn gì vậy, có thích đánh nhau không” đồng chí T không nói gì quay mặt lại về phía trước, thấy vậy Q dựng xe mô tô và xuống xe đi về phía đồng chí T rồi dùng chân phải đạp từ sau về trước trúng vào vai trái đồng chí T và lưng đồng chí C. Do bất ngờ bị Q tấn công nên xe mô tô do đồng chí C điều khiển bị nghiêng sang bên phải. Tại ngã tư lúc này có nhiều người và phương tiện tham gia giao thông nên việc Q dựng xe giữa đường đồng thời đánh hai đồng chí cảnh sát giao thông đã làm ảnh hưởng tới trật tự an toàn giao thông gây ùn tắc tại ngã tư Tràng An, ngay sau đó đồng chí C, đồng chí T khống chế đưa Bùi Xuân Q về trụ sở Công an phường T, thành phố N làm việc, ngoài ra còn thu giữ của Quân 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen biển kiểm soát 35H1-..23, 01 Đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 35H1-..23 mang tên Đinh Thị Y.
- Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 03/01/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã quyết định truy tố bị cáo Bùi Xuân Q về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự (BLHS)
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Bùi Xuân Q đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân Q phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Xử phạt Bùi Xuân Q từ 03 tháng đến 05 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án;
Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo: đề nghị HĐXX xem xét bị cáo có tiền sử rối loạn loạn thần do rượu, để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là khách quan phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản sự việc và nội dung bản cáo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N. Như vây, đã có đủ căn cứ xác định khoảng 6 giờ ngày 15/8/2020 Bùi Xuân Q điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35H1-..23 chở theo vợ và con đi từ nhà ở xã N, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xuống khu vực thành phố N. Do Q trước đó đã uống rượu không làm chủ được bản thân nên khi điều khiển xe mô tô đến khu vực ngã tư Kỳ Lân thuộc phường T, thành phố N gặp đồng chí Nguyễn Quốc C, đồng chí Trần Việt T là cán bộ đội cảnh sát giao thông Công an thành phố N đang điều khiển xe mô tô đặc chủng đi làm nhiệm vụ, Q đã có hành vi bấm còi, rú ga, lạng lách, phóng nhanh vượt xe của hai đồng chí cảnh sát giao thông nhằm mục đích để trêu trọc, khi đồng chí C dừng xe mô tô tại ngã tư Tràng An thuộc phố T, phường T, thành phố N để chờ đèn tín hiệu thì Q liên tục bấm còi gây ồn ào và sự chú ý của những người tham gia giao thông xung quanh, đồng thời khi đồng chí T quay sang nhìn Q thì Q có hành vi chửi bới thách thức và dựng xe mô tô Biển kiểm soát 35..-..23 ngay dưới lòng đường khu vực ngã tư Tràng An sau đó Q dùng chân phải đạp từ phía sau trúng vào vai trái đồng chí T và vào lưng đồng chí C đã gây mất an ninh trật tự, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây ách tắc giao thông tại khu vực ngã tư Tràng An.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trật tự địa phương; tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 428/KLGĐ ngày 17/11/2020 của Viện pháp y tâm thần trung ương - Bộ y tế kết luận: Tiền sử bị cáo Bùi Xuân Q có rối loạn loạn thần do rượu đã điều trị khỏi. Trước, trong khi phạm tội và tại thời điểm giám định bị cáo Bùi Xuân Q có hội chứng nghiện rượu. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F10.2. Tại các thời điểm trên bị cáo Bùi Xuân Q đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi như vậy bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự và độ tuổi theo quy định; cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thấy: hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo là phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS;
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử, xét thấy: cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời để bị cáo rèn luyện, cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Về trách nhiệm dân sự: Đối với anh Nguyễn Quốc C và anh Trần Việt T ngày 15/8/2020 bị Bùi Xuân Q dùng chân đá vào người nhưng không bị thương tích nên anh C và anh T không có yêu cầu đề nghị gì đối với Q; vì vậy, HĐXX không xét.
. Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen biển kiểm soát 35H1-..23, 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 35H1-..23 mang tên Đinh Thị Y thu giữ của Bùi Xuân Q điều khiển ngày 15/8/2020, quá trình điều tra xác định là tài sản chung của Bùi Xuân Q và chị Đinh Thị Y, cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cùng đăng kí xe cho vợ chồng Q là đúng quy định.
Các vấn đề khác: Đối với hành vi điều khiển xe mô tô ngày 15/8/2020 của Bùi Xuân Q trong hơi thở có nồng độ cồn 0,978mg/l khí thở vượt 0,4 miligam/1 lít khí thở vi phạm điểm e khoản 8 điều 6 và không có giấy phép lái xe mô tô vi phạm vào điểm a khoản 5 điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019, công an thành phố N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức tiền phạt 6.800.000 đồng là có căn cứ đúng quy định.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; khoản 2 các điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu án phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân Q phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”; Xử phạt bị cáo Bùi Xuân Q 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Bùi Xuân Q không phải nộp.
3. Quyền kháng cáo:
- Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Anh Chiến, anh Tùng được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự `nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người liên quan - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND thành phố N; - Công an thành phố N; - Chi cục THA.DS thành phố N; - Thi hành án HS; - Sở Tư pháp Ninh Bình; - Lưu (Hồ sơ, VP); | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Bình |