vanban.org

Bản án 21/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 23/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Giết người”

Xử phạt bị cáo Dương Văn H (tên gọi khác: N) 09 (chín) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tính từ ngày 28/03/2021. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn H - Tội Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Giết người”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2021/HS-ST
Ngày 23 - 12 - 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũ.

Thẩm phán: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Việt

Ông Trương Văn Lai

Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hol - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2021/TLST-HS, ngày 29 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2021/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 11 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2021/HSST-QĐ ngày 23 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đối với bị cáo:

Dương Văn H; Tên gọi khác: N; Giới tính: Nam; Sinh năm 1948, Nơi sinh: huyện Trần Đ, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp Sóc L, thị trấn Lịch Hội T, huyện Trần Đ, tỉnh Sóc Trăng; Dân tộc: Hoa; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 04/12; Họ và tên cha: Dương Văn L (chết); Họ và tên mẹ: Lưu Thị Đ (chết); Anh, chị, em ruột: 06 người (kể cả bị cáo), lớn nhất sinh năm 1939, nhỏ nhất sinh năm 1967; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1953 (đã ly thân); Bị can có 04 người con, lớn sinh năm 1972, nhỏ sinh năm 1981; Tiền sự: Không; Tiền án: lần thứ nhất vào ngày 24/4/1984 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang tuyên phạt 02 năm tù giam về tội cướp tài sản riêng của công dân, được đặc xá ngày 12/9/1984 (đã được xóa án tích); lần thứ hai vào ngày 31/7/1996 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 08 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/8/1996 nhưng chưa bồi thường, nên chưa được xóa án tích; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/3/2021 và chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Võ Bá Đ – Luật sư của Văn phòng luật sư Đường Dân T, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sóc Trăng - Thực hiện trợ giúp pháp lý cho bị cáo (Có mặt).

- Bị hại: Bà Lý Ngọc D; Sinh năm 1984; Nơi cư trú: Ấp Nam C, thị trấn Lịch Hội T, huyện Trần Đ, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

- Những người làm chứng:

1/ Bà Huỳnh Mỹ K, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Ấp GG, thị trấn LHT, huyện TĐ, tỉnh Sóc Trăng; (Vắng mặt).

2/ Ông Mai Thanh N, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Ấp GG, thị trấn LHT, huyện TĐ, tỉnh Sóc Trăng; (Vắng mặt).

3/ Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1960; Nơi cư trú: Ấp GG, thị trấn LHT, huyện TĐ, tỉnh Sóc Trăng; (Vắng mặt).

4/ Bà Trần Thị Kiều L, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Ấp GG, thị trấn LHT, huyện TĐ, tỉnh Sóc Trăng; (Vắng mặt).

5/ Ông Dương Trọng H, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Ấp GG, thị trấn LHT, huyện TĐ, tỉnh Sóc Trăng; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Văn H sinh năm 1948, nơi cư trú ấp Sóc Lèo B, thị trấn Lịch Hội T, huyện Trần Đ, tỉnh Sóc Trăng và Lý Ngọc D sinh năm 1984, nơi cư trú ấp Nam C, thị trấn Lịch Hội T, huyện Trần Đ, tỉnh Sóc Trăng do có quen biết nhau, nên H cho D mượn tiền và xe để sử dụng, sau đó H đòi lại, nhưng D không trả. Vì vậy, ngày 10/3/2021 H đến quán nhậu thuộc ấp Giồng Giữa, thị trấn Lịch Hội T, nơi D buôn bán để gây sự, D đã đến trình báo và được Công an thị trấn Lịch Hội T lập biên bản cam kết với nội dung D sẽ trả tiền và xe cho H, còn H sẽ không đến quán của D gây mất trật tự. Sau đó D trả xe lại cho H nhưng chưa trả tiền.

Ngày 20/3/2021 H tiếp tục đến quán nhậu của D để đòi tiền nhưng gặp bạn D là Trần Thị Ngọc L nên H đi về. Do chưa đòi được tiền và nghi ngờ D thuê người đến đe dọa mình, H nảy sinh ý định giết chết D rồi uống thuốc tự tử. Để thực hiện ý định trên, H mua 01 chai thuốc trừ sâu để vào giỏ xách cùng cây dao và sợi dây dù, đến khoảng 20 giờ ngày 22/3/2021 H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83H-90xx chạy đến quán nhậu tìm D, nhưng chưa vào quán thì được Dương Trọng H là khách nhậu trong quán phát hiện có hung khí trong giỏ xách nên giật lấy, H chạy xe về nhà, ngày hôm sau D tiếp tục đến Công an thị trấn Lịch Hội T trình báo và giao nộp giỏ xách bên trong có 01 cây dao, 01 chai thuốc trừ sâu và 02 sợi dây dù.

H tiếp tục mua chai thuốc trừ sâu khác, đến khoảng hơn 05 giờ ngày 28/3/2021, H bắt 02 con gà bỏ vào trong giỏ xách rồi chạy xe ra chợ thị trấn Lịch Hội T bán 02 con gà, sau đó đi đến xe lấy chai thuốc sâu trong giỏ xách bỏ vào hộc xe mô tô, rồi đi vào quán ăn của bà Trương Kim U ăn cháo để chờ D. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, H thấy D chạy xe mô tô đến chợ thị trấn Lịch Hội T, khi D dừng xe lại, còn ngồi trên xe, H cầm theo giỏ xách đi đến chỗ D và hỏi “tiền rồi tính làm sao”, D trả lời “để công an giải quyết”, nói xong D bỏ chạy, H lấy cây dao từ trong giỏ xách ra rượt theo, D chạy vào nhà bà Huỳnh Mỹ K ở gần đó, nhưng không có lối thoát cửa sau nên quay ra. Lúc này H chạy tới đối diện với D và cầm cây dao trên tay phải chém liên tiếp vào cơ thể D nhiều cái, D đưa tay lên đỡ và chạy thoát được ra ngoài sân. Chạy được 01 đoạn thì vấp ngã, H chạy đến chém D thêm nhiều dao nữa. Lúc này có nhiều người định can ngăn, nhưng bị H cầm dao lên đe dọa, H chém D thêm một dao nữa làm lưỡi dao rời khỏi cán rơi xuống đất, thấy D nằm bất động, nghĩ rằng D đã chết nên ném cán dao bỏ và định chạy đến chỗ đậu xe để lấy thuốc uống tự tử thì bị người dân khống chế, báo cho Công an thị trấn Lịch Hội T đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Còn D được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng cấp cứu sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ điều trị, đến ngày 01/4/2021 thì xuất viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 158/TgT-PY ngày 05/05/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Sóc Trăng, kết luận đối với Lý Ngọc D như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Gồm các thương tích như sau: 05 sẹo phầm mềm, kích thước trung bình nằm ở vùng đầu, cẳng tay phải và cẳng tay trái; 08 sẹo phần mềm, kích thước lớn nằm ở vùng đầu, ngực, bụng, cẳng tay trái và cẳng chân trái; 02 sẹo phần mềm vùng mặt bên trái, kích thước trung bình; 01 sẹo vùng khuỷu trái, kích thước lớn.Tổn thương gây đứt thần kinh, gân gấp, gãy cầu lồi trong, còn ảnh hưởng chức năng khuỷu và sẹo phức tạp vùng cẳng - bàn tay trái, kích thước lớn. Tổn thương gây đứt gân, gãy đầu xương quay, xương than, còn ảnh hưởng chức năng cổ - bàn tay.

2. Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tính theo Thông tư số 22/2019/TT – BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế hiện tại là 62% (Sáu mươi hai phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Các tổn thương trên do vật sắc gây nên.

- Tổn thương vùng đầu, mặt, cổ, ngực, bụng nằm ở vùng gây nguy hiểm đến tính mạng.

- Tổn thương gây ảnh hưởng đến chức năng tay trái.

Tại bản Kết luận giám định số: 2139/C09B, ngày 23/4/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

Giám định của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành Phố Hồ Chí Minh kết luận không phát hiện thấy dấu vân tay trên khúc gỗ gửi giám định.

Trên các mẫu vật gửi giám định gồm: 01 lưỡi dao kim loại, 01 áo thun ngắn tay màu xám trắng, 01 quần jeans màu xanh, dấu vết thu tại hiện trường vị trí số 1, vị trí số 4 đều có máu người. Phân tích ADN từ các mẫu được cùng một kiểu gen nữ giới hoàn chỉnh, trùng với kiểu gen của Lý Ngọc D.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKSST-P2, ngày 27/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Dương Văn H về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố Nhà nước đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số 32/CT-VKSST-P2, ngày 27/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Về tình tiết tăng nặng bị cáo phạm tội chưa được xóa án tích là tái phạm, đề nghị áp dụng điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự;

- Về tình tiết giảm nhẹ: điểm o, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Dương Văn H từ 09 đến 11 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: áp dụng các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự. Chấp nhận các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, điều trị, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của bị hại. Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút của bị hại. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế của người chăm sóc trong thời gian điều trị. Riêng tiền tổn thất về tinh thần bị hại không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Ngoài ra Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật quy định.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo trình bày: thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội danh. Không thống nhất tình tiết có tính chất côn đồ, vì có nguyên nhân bị cáo đòi tiền bị hại nhiều lần không trả. Thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức án từ 07 đến 08 năm tù.

Bị cáo trình bày: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại trình bày: Yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật. Bồi thường tất cả các khoản chi phí điều trị số tiền là 97.769.000 đồng. Riêng tiền tổn thất tinh thần không yêu cầu. Qua phân tích của Hội đồng xét xử bị hại không đề nghị khấu trừ 20.000.000 đồng tiền bị hại mượn bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung vụ án đã nêu ở phần trên. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định: Khoảng hơn 05 giờ ngày 28/3/2021, H bắt 02 con gà bỏ vào trong giỏ xách rồi chạy xe ra chợ thị trấn Lịch Hội T bán 02 con gà, sau đó đi đến xe lấy chai thuốc sâu trong giỏ xách bỏ vào hộc xe mô tô, rồi đi vào quán ăn của bà Trương Kim U ăn cháo để chờ D. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, H thấy D chạy xe mô tô đến chợ thị trấn Lịch Hội T, khi D dừng xe lại, còn ngồi trên xe, H cầm theo giỏ xách đi đến chỗ D và hỏi “tiền rồi tính làm sao”, D trả lời “để công an giải quyết”, nói xong D bỏ chạy, H lấy cây dao từ trong giỏ xách ra rượt theo, D chạy vào nhà bà Huỳnh Mỹ K ở gần đó, nhưng không có lối thoát cửa sau nên quay ra. Lúc này H chạy tới đối diện với D và cầm cây dao trên tay phải chém liên tiếp vào cơ thể D nhiều cái, D đưa tay lên đỡ và chạy thoát được ra ngoài sân. Chạy được 01 đoạn thì vấp ngã, H chạy đến chém D thêm nhiều dao nữa. Lúc này có nhiều người định can ngăn, nhưng bị H cầm dao lên đe dọa, H chém D thêm một dao nữa làm lưỡi dao rời khỏi cán rơi xuống đất, thấy D nằm bất động, nghĩ rằng D đã chết nên ném cán dao bỏ và định chạy đến chỗ đậu xe để lấy thuốc uống tự tử thì bị người dân khống chế, báo cho Công an thị trấn Lịch Hội T đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Còn D được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng cấp cứu sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ điều trị, đến ngày 01/4/2021 thì xuất viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 158/TgT-PY ngày 05/05/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Sóc Trăng, kết luận đối với Lý Ngọc D bị tổn hại sức khỏe 62%. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung là có tính chất côn đồ. Do đó, cáo trạng số 32/CT-VKSST-P2 ngày 27/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không oan cho các bị cáo.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ dao mác giót là hung khí nguy hiểm. Bị cáo chém liên tục nhiều dao vào vùng hiểm yếu của bị hại như vào đầu, mặt và vào người của bị hại. Chỉ vì bị hại không trả tiền cho bị cáo, bị cáo chuẩn bị dao mác giót, thuốc trừ sâu, dây dù dự định sau khi chém chết bị hại bị cáo uống thuốc sâu tự tử.

Sau khi gặp bị hại tại chợ thị trấn Lịch Hội T, bị cáo dùng dao rượt chém bị hại nhiều dao, sau khi bị hại chạy thoát ra ngoài và vấp ngã bị cáo lại tiếp tục dùng dao chém tiếp nhiều dao nữa cho đến khi xúc cán dao ra bị cáo mới dừng lại và nghĩ rằng bị hại đã chết. Hậu quả bị hại bị thương tích 62%, việc bị hại không chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại Lý Ngọc D một cách trái pháp luật và được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây xôn xao dư luận tại địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như thế mới đủ điều kiện và thời gian cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, trong vụ án này, bị cáo Dương Văn H có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là vào ngày 31/7/1996 bị cáo bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 08 tháng tù giam về tội cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/8/1996 nhưng chưa bồi thường cho bị hại, cho nên chưa được xóa án tích là tái phạm, theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền sự; Sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo; Khi phạm tội bị cáo 73 tuổi; Phạm tội giết người chưa đạt; Theo quy định tại các điểm o, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và một phần đề nghị của người bào chữa, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm 01 lưỡi dao loại dao dài 26cm x 05cm có một lưỡi sắc; 01 khúc gỗ hình tròn đường kính 3cm, dài 36,5cm, một đầu được bao quanh bằng kim loại màu trắng có số đo 2,5cm x 2cm là công cụ phạm tội nên căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử tuyên tịch thu và tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô Nouvo, biển số 83H9-90xx và 01 điện thoại di động Nokia màu đen bị vỡ làm hai phần trả lại cho bị cáo Dương Văn H, theo điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị cáo yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án đối với xe mô tô và điện thoại bị vỡ. Đối với các vật còn lại thu tại hiện trường gồm: 02 chiếc dép màu vàng; 01 cái áo thun ngắn tay, có bâu, màu xám trắng, áo có một túi bên trái, trước ngực có cúc; 01 quần jean màu xanh, lưng quần có gắn mạc chữ T&G; phía sau có miếng da chữ VARGACE, trả lại cho bị cáo. Đối với 01 cái giỏ xách ni lon; 01 cái ghế nhựa màu xanh; 01 chai thủy tinh màu trắng, bên trong có chất lỏng; 02 chiếc dép màu đen tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay bị hại Lý Ngọc D yêu cầu bị cáo Dương Văn H bồi thường các khoản chi phí điều trị 24.869.115 đồng; Thuê người nuôi bệnh 300.000đ/ngày x 5 ngày = 1.500.000 đồng; Thuê rửa vết thương 200.000 đ/ngày x 20 ngày = 4.000.000 đồng; Thuốc sức sẹo 400.000 đ/tuýp x 3 tuýp = 1.200.000 đồng; Tái khám 1.500.000 đ/lần x 6 lần = 9.000.000 đồng; Chi phí mổ lần 2: 20.000.000 đồng; Chi phí hồi phục sức khỏe bị mất 62% do không lao động được mỗi tháng 10.000.000 đ/tháng x 06 tháng = 37.200.000 đồng. Tổng cộng các khoản: 97.769.000 đồng. Không yêu cầu tiền tổn thất về tinh thần.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không đồng ý bồi thường các khoản như bị hại yêu cầu. Bị cáo chỉ đồng ý các khoản chi phí hợp lý và được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị cáo không đồng ý khấu trừ số tiền bị hại còn thiếu không phải 20.000.000 đồng mà là 197.000.000 đồng.

Xét thấy, các khoản chi phí điều trị tại phiên tòa hôm nay bị hại yêu cầu bị cáo hoàn trả tổng cộng các khoản là 97.769.000 đồng là có cơ sở phù hợp quy định của pháp luật, cho nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Xét thấy, bị cáo Dương Văn H, sinh năm 1948 là người cao tuổi, cho nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 12; Khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm o, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dương Văn H (tên gọi khác: Nỏ)

1. Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Giết người”

2. Tuyên xử:

Xử phạt bị cáo Dương Văn H (tên gọi khác: N) 09 (chín) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tính từ ngày 28/03/2021.

3. Về xử lý vật chứng:

Tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án theo nguyện vọng của bị cáo: 01 chiếc xe mô tô Nouvo, biển số 83H9-90xx và 01 điện thoại di động Nokia màu đen bị vỡ làm hai phần của bị cáo Dương Văn H, theo điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Trả lại cho bị cáo gồm: 02 chiếc dép màu vàng; 01 cái áo thun ngắn tay, có bâu, màu xám trắng, áo có một túi bên trái, trước ngực có cúc; 01 quần jean màu xanh, lưng quần có gắn mạc chữ T&G; phía sau có miếng da chữ VARGACE, theo điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tịch thu và tiêu hủy: 01 cái giỏ xách ni lon; 01 cái ghế nhựa màu xanh; 01 chai thủy tinh màu trắng, bên trong có chất lỏng; 02 chiếc dép màu đen, theo điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Dương Văn H phải bồi thường các khoản chi phí điều trị, tàu xe, chi phí người nuôi bệnh, chi phí mỗ lần 2, chi phí tái khám, chi phí phục hồi sức khỏe, thuê rữa vết thương cho bị hại Lý Ngọc D tổng cộng: 97.769.000 đồng.

5. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Dương Văn H được miễn án phí Hình sự sơ thẩm và Dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ