vanban.org

Bản án 21/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 29/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Tuyên bố bị cáo: Vũ Đình Hphạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Vũ Đình H03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/11/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình Hùng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? I. Tuyên bố bị cáo: Vũ Đình Hphạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Q.LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2021/HS-ST
Ngày: 29/3/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Trình

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Sỹ

Ông Nguyễn Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phƣơng Thùy – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu- TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bão – Kiểm sát viên.

Ngày 29/3/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2021/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Vũ Đình H– Sinh ngày 22 tháng 4 năm 1994; tại: QT. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn xx, X. CT, H. CL, T. QT; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông Vũ Đình M – Sinh năm: 1970 và con bà Nguyễn Thị – sinh năm: 1972; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền sự: Chưa.

Tiền án:

- Ngày 14/4/2017, bị TAND Q. Liên Chiểu xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 14/10/2017.

- Ngày 26/9/2018, bị TAND thành phố Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/02/2020.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/11/2020, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Ông Lê Văn T, sinh năm: 1998; Địa chỉ: xx Đồng kè, phường HKB, quận LC. vắng mặt

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quốc H, sinh năm: 1997; Địa chỉ: Tổ xx, phường x, quận HC, thành phố Đ. vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06h00 phút, ngày 29/8/2020, anh T sau khi đi làm ca đêm về tại phòng trọ của mình thì khóa xe mô tô hiệu Yamaha Exciter BKS: 73H1 - 389.90 (anh Tường đứng tên chủ sở hữu) và dựng trước cửa phòng trọ rồi vào phòng trọ, (lúc này trong phòng trọ có Vũ Đình H đang ở nhờ nhà anh Tường), anh Tường để chìa khóa xe và chiếc ví trên giường rồi nằm ngủ.

Khi thấy anh T đã ngủ say thì Hùng nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của anh Tường. Lợi dụng lúc anh Tường đang ngủ, Hùng lấy chìa khóa xe của anh Tường rồi điều khiển xe mô tô đem đi tiêu thụ, trên đường đi thì Hùng liên lạc với Nguyễn Trần Phúc An mà Hùng quen biết qua mạng xã hội nhờ bán xe mô tô, lúc này An hỏi Hùng là xe có chính chủ không thì Hùng trả lời là xe chính chủ nhưng gia đình đã giữ giấy tờ xe, nên An nói nếu không có thì chụp hình lại giấy tờ xe. Nghe An nói vậy, Hùng quay về lại phòng trọ thì lúc này anh Tường vẫn đang ngủ, Hùng lục ví rồi chụp lại giấy đăng ký xe và chứng minh nhân dân của anh Tường. Sau đó, Hùng và An đi đến tiệm mua bán xe của anh Trần Quốc Hòa để bán xe tại địa chỉ K24/9 Mạc Đỉnh Chi, P. Hải Châu 2, Q. Hải Châu. Hùng tự nhận là anh Lê Văn Tường và nói giấy tờ đã cầm cố, nên Hùng đưa hình ảnh giấy tờ xe ra để anh Hòa kiểm tra. Sau khi kiểm tra, anh Hòa đồng ý mua với giá 20.000.000 đồng nhưng đưa trước cho Hùng 10.000.000 đồng, và hẹn đến này 29/9/2020 Hùng đem giấy tờ xe đến thì sẽ thanh toán số tiền còn lại. Thời điểm mua bán xe, Hùng viết giấy bán xe cho Hòa, Hùng ghi tên người bán là Lê Văn Tường. Sau khi nhận tiền, Hùng cho An 200.000 đồng và sử dụng tiêu xài cá nhân, Hùng còn giữ lại 500.000 đồng. Đến trưa cùng ngày, anh Tường ngủ dậy không thấy xe mô tô của mình ở đâu, nghi ngờ Hùng là người lấy trộm xe của mình nên anh Tường gọi điện cho Hùng nhưng không được. Đến khoảng 20h00’ cùng ngày, Tường đi tìm và gặp được Hùng, Hùng thừa nhận do nợ tiền người khác nên đã lấy trộm và cầm xe của anh Tường.

Tại Cơ quan Công an, Vũ Đình Hđã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Ngày 16/9/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự quận Liên Chiểu ban hành Kết luận số: 82/KL-HĐĐG, kết luận: Giá trị sử dụng còn lại của 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS: 73H1 - 389.40 là: 33.000.000 đồng.

Ngày 04/11/2020, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu ra Quyết định xử lý vật chứng số: 64/CSĐT, trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Văn Tường: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS: 73H1 - 389.40.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 21/01/2021 của VKSND quận Liên Chiểu đã truy tố bị cáo Vũ Đình Hvề tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” như bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 21/01/2021 của VKSND quận Liên Chiểu. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 04-05 năm tù; Và đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất về tội danh, và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có ý kiến bổ sung;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 06h30 phút, ngày 29/8/2020, tại phòng trọ số 156 đường Đồng Kè, phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng, bị cáo Vũ Đình Hcó hành vi lén lút, lấy trộm của anh Lê Văn Tường 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS: 73H1 - 389.40, trị giá 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng).

Hành vi phạm tội của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

[3] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Hành vi phạm tội trên đây của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngay giữa ban ngày, ngay cả với người bạn đã cho bị cáo ở nhờ, thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

HĐXX xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị TAND Q. Liên Chiểu xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và bị TAND thành phố Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Nhưng bị cáo không tự rèn luyện bản thân, tu chí làm ăn, mà tiếp tục phạm tội ngay với người bạn cho mình ở nhờ. Do vậy, việc xét xử bị cáo đưa ra mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là cần thiết, nhằm giáo dục bị cáo.

Tại bản án số 169/2018/HSPT ngày 26/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xác định bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm”, về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đến ngày 08/02/2020, thì bị cáo chấp hành xong, nhưng đến ngày 29/8/2020 bị cáo tiếp tục phạm tội mới khi chưa được xóa án tích. Do vậy, lần phạm tội này được xác định là “tái phạm nguy hiểm ” là tình tiết định khung trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS, như bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 21/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Chấp hành xong hình phạt.

HĐXX xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, như đề nghị của đại diện VKSND quận Liên Chiểu tại phiên tòa là phù hợp, tuy nhiên, mức đề nghị của VKS là có phần nghiêm khắc đối với bị cáo, do vậy, HĐXX xử bị cáo mức án thấp hơn so với đề nghị của KSV tại phiên tòa; Vì:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; khắc phục hậu quả và tài sản đã thu hồi trả cho người bị hại; và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 6.000.000đ là tiền chi phí phát sinh do mất thu nhập theo yêu cầu của anh Tường. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đối với anh Trần Quốc Hòa đã nhận mua xe mô tô Yamaha Exciter BKS: 73H1 - 389.40, nhưng anh Hòa không biết xe mô tô trên là do Hùng trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu không xử lý là có căn cứ.

Đối với đối tượng tên Nguyễn Trần Phúc An, không biết xe mô tô Hùng đem bán là do trộm cắp mà có, vì An đã hỏi Hùng về nguồn gốc giấy tờ khi dẫn Hùng đi bán xe, hiện nay An đã đi khỏi địa phương, do vậy, đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận liên Chiểu tiếp tục xác minh làm rõ sau theo quy định của pháp luật.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 giấy bán xe và 12 tờ giấy A4 có in nội dung tin nhắn giữa Lê Văn Tường và Vũ Đình Htại hồ sơ vụ án;

- Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo, cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đình Htự nguyện bồi thường cho người bị hại, là anh Lê Văn Tường số tiền 6.000.000đ là tiền chi phí phát sinh do mất thu nhập theo yêu cầu của anh Tường. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bị cáo, không trái pháp luật, nên HĐXX ghi nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải nộp số tiền 200.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

I. Tuyên bố bị cáo: Vũ Đình Hphạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Vũ Đình H03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/11/2020.

II. Về xử lý vật chứng : Áp dụng : Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tiếp tục quy trữ tại hồ sơ 01 giấy bán xe và 12 tờ giấy A4 có in nội dung tin nhắn giữa Lê Văn Tường và Vũ Đình Hùng;

- Tiếp tục quy trữ số tiền 500.000 đồng của bị cáo, để đảm bảo cho việc thi hành án. (Tiền đang tạm giữ tại Cơ quan thi hành án dân sự quận Liên Chiểu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/01/2021).

III. Về phần dân sự:

Ghi nhận sự của bị cáo Vũ Đình Hbồi thường cho anh Lê Văn T số tiền 6.000.000đ (sáu triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án (anh Lê Văn Tường) có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án (bị cáo Vũ Đình Hùng) không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi suất nợ quá hạn theo quy định tại Điều 468 BLDS tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

IV. Về án phí HSST: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải nộp số tiền 200.000đ.

V. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.

Cỡ chữ