vanban.org

Bản án 21/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 06/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chuyển lại chiếc e mô tô nhãn hiệu Alantie, gắn Biển kiểm soát 16H6-8088 cho Cơ uan cảnh sát điều tra Công an uận H ng Bàng làm rõ, l sau (Biên bản bàn giao ngày 04-01-2021).

DDH, TVH và NVK phải nộp mỗi bị cáo 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có uyền lợi, nghĩa vụ liên uan được uyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "DDH - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chuyển lại chiếc e mô tô nhãn hiệu Alantie, gắn Biển kiểm soát 16H6-8088 cho Cơ uan cảnh sát điều tra Công an uận H ng Bàng làm rõ, l sau (Biên bản bàn giao ngày 04-01-2021).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2021/HS-ST
Ngày 06-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Hải.

Ông Nguyễn Xuân Tuất.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Vân - Thư k Toà án của Toà án nhân dân uận H ng Bàng, thành phố Hải Ph ng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2021 tại trụ s Toà án nhân dân uận H ng Bàng, thành phố Hải Ph ng t sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số: 92/2020/TLST-HS ngày 29-12-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra t số: 08/2021/QĐXXST-HS ngày 08-01-2021; Quyết định hoãn phiên t a số: 03/2021/HSST-QĐ ngày 08-02-2021 và Quyết định hoãn phiên t a số: 05/2021/HSST-QĐ ngày 09-3-2021 đối với các bị cáo:

1. DDH, sinh năm 1989, tại Hải Ph ng. Nơi đăng k hộ khẩu thường trú: Số 4/224 A, phường B, uận C, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 8/269 D, phường E, uận F, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; uốc tịch: Việt Nam; bố là G, mẹ là H (đã chết); vợ đã ly hôn là I, có 01 con sinh năm 2011; tiền án: Chưa; tiền sự: Quyết định phạt vi phạm hành chính số 78/QĐ-XPVPHC ngày 23-3-2020 của Ủy ban nhân dân phường E phạt 2.000.000 đ ng về hành vi âm hại đến sức khỏe người khác; bị tạm giữ từ ngày 11-9-2020, bị tạm giam từ ngày 16-9-2020; có m t.

2. TVH, sinh năm 1974, tại Hải Ph ng. Nơi đăng k hộ khẩu thường trú: Thôn J, xã K, huyện L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Trên thuyền tại khu vực bến đò M, phường N, uận F, thành phố Hải Ph ng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; uốc tịch: Việt Nam; bố là O (đã chết), mẹ là P; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Chưa; nhân thân: Có 04 tiền án đều đã được óa án tích, Bản án hình sự sơ thẩm số 27/STHS ngày 14-02-1995 T a án nhân dân thành phố Hải Ph ng phạt 05 năm tù về tội Cướp tài sản; Bản án hình sự sơ thẩm số 104/HS-ST ngày 01-12-2000 Tòa án nhân dân uận H ng Bàng phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án hình sự sơ thẩm số 234/2006/HSST ngày 24-11-2006 T a án nhân dân thành phố Hải Ph ng phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Bản án hình sự phúc thẩm số 117/2007/HSPT ngày 31-5-2007 T a án nhân dân tỉnh Quảng Ninh phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái ph p chất ma túy; cộng với 36 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 234/2006/HSST ngày 24-11-2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Ph ng. Tổng hợp hình phạt chung 02 Bản án là 11 năm tù; bị tạm giữ từ ngày 13-8-2020, được áp dụng biện pháp ngăn ch n Bảo lĩnh từ ngày 15-8-2020; bị bắt tạm giam ngày 27-3-2021; có m t.

3. NVK, sinh năm 1991, tại Hải Ph ng. Nơi cư trú: Thôn Q, xã R, huyện S, thành phố Hải Ph ng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; uốc tịch: Việt Nam; con ông T và bà U; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Chưa, bị tạm giữ từ ngày 13-8-2020, được áp dụng biện pháp ngăn ch n Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15-8-2020; bị bắt tạm giam ngày 27-3-2021; có m t.

4. TVH (đã chết), sinh năm 1975, tại Hải Ph ng. Nơi đăng k hộ khẩu thường trú: Số 3 V, phường W, uận X, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 474 Đường Y, xã Z, huyện L, thành phố Hải Ph ng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; uốc tịch: Việt Nam; con ông AA (đã chết) và bà AB; vợ đã ly hôn là AC; có 01 con sinh năm 2002; chết vào ngày 10-01-2021 (Trích lục khai t số 26/2021/TLKT-BS ngày 08-3-2021 của UBND phường W, uận X, Hải Ph ng);

- Bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên TN; địa chỉ trụ s : Số 1 AD, phường AE, uận F, Hải Ph ng. Người đại diện theo pháp luật: Ông AF, chức vụ: Chủ tịch Công ty; vắng m t

- Người có uyền lợi, nghĩa vụ liên uan: Bà NLQ; địa chỉ: Số 10/269 D, phường E, uận F, Hải Ph ng; có m t.

- Người làm chứng:

1. Ông NLC1; vắng m t;

2. Ông NLC2; vắng m t;

3. Bà NLC3; vắng m t;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 11-8-2020, DDH điều khiển e môtô nhãn hiệu Sirius (không rõ biển kiểm soát) ch NVK và TVH đến thuyền của TVH đang neo đậu tại bờ kè M, phường N, uận F, thành phố Hải Ph ng chơi. Tại đây, DDH rủ TVH, NVK và TVH đi lấy trộm thuyền gỗ Trạm cống thoát nước đảo triều h Điều H a của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên TN, tất cả đều đ ng . DDH bảo NVK và TVH đi e môtô về nhà trọ của DDH để lấy thêm 01 e môtô và 02 kìm cộng lực. NVK ch TVH về ph ng trọ của DDH lấy xe và kìm. NVK điều khiển e môtô nhãn hiệu Alantie Biển kiểm soát 16H6-8088 cùng TVH quay lại thuyền của TVH, đưa 02 kìm cộng lực cho DDH. Sau đó, NVK điều khiển 1 xe môtô ch TVH, DDH điều khiển 1 xe môtô ch TVH đến h Điều H a. Tại đây, khi uan sát thấy không có người trông coi, DDH bảo NVK trông e và cảnh giới. DDH cầm kìm cộng lực cùng TVH và TVH uống c a trạm. DDH dùng kìm cắt khóa c a trạm thoát nước, thấy bên trong có 02 chiếc thuyền gỗ để ch ng lên nhau kích thước 3,9m 1,08m 0,35m, DDH gọi NVK vào trong trạm để bốn bị cáo cùng nhau khiêng 01 chiếc thuyền lên bờ, r i thả uống sông Rế. TVH uống thuyền lấy cọc tre gần đó chèo thuyền về nơi neo đậu thuyền của mình cất giấu. DDH, NVK và TVH điều khiển e môtô về thuyền của TVH. Sau khi g p lại tại thuyền của TVH, cả bốn tiếp tục uay lại lấy chiếc thuyền thứ hai. Trên đường đi, do TVH bị ốm nên nhờ NVK ch về nhà. Sau khi ch TVH về nhà, NVK uay lại trạm g p DDH và TVH. Cả ba cùng nhau khiêng chiếc thuyền c n lại lên bờ, r i thả uống sông Rế. TVH tiếp tục chèo thuyền về nơi neo đậu thuyền của mình cất giấu. DDH và NVK điều khiển 02 xe môtô về thuyền của TVH.

Đến ngày 12-8-2020, TVH đến Công an phường Trại Chuối, uận TVH Bàng đầu thú. Ngày 13-8-2020 TVH và NVK bị Cơ uan Cảnh sát điều tra Công an uận H ng Bàng bắt giữ. DDH bỏ trốn đến ngày 11-9-2020 bị bắt theo uyết định truy nã của Cơ uan điều tra.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23/ĐTTS-HĐĐG ngày 13-8-2020 của Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân uận F kết luận: “02 thuyền gỗ đã qua sử dụng, kích thước dài 3,9m x rộng 1,08m x cao 0,35m, chất lượng còn lại khoảng (60-65%). Đơn giá mỗi chiếc 6.000.000 đồng. Tổng trị giá 12.000.000 đồng”.

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSHB ngày 28-12-2020 của Viện Kiểm sát nhân dân uận H ng Bàng truy tố các bị cáo DDH, TVH, NVK và TVH đ ng phạm về tội Trộm cắp tài sản theo uy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo DDH, TVH và NVK khai nhận hành vi như nội dung Viện Kiểm sát nhân dân uận H ng Bàng đã truy tố.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đ ng t kết tội các bị cáo DDH, TVH, NVK và TVH về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Các bị cáo DDH, TVH và NVK phạm tội 02 lần nên có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; các bị cáo có tình tiết giảm trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo TVH c n có tình tiết giảm nhẹ “đầu thú” theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Đề nghị Hội đ ng t xem xét, x phạt bị cáo DDH mức án từ 18 đến 24 tháng tù; x phạt bị cáo TVH từ 18 đến 24 tháng tù; x phạt bị cáo NVK từ 15 đến 18 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo;

Đề nghị Hội đ ng t áp dụng uy định tại khoản 7 Điều 157 và Điều 282 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ vụ án đối với bị cáo TVH do bị cáo đã ốm chết vào 10-01-2021;

Đề nghị Hội đ ng t căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 ổ khóa đã bị cắt móc treo và 02 kìm cộng lực. Trả lại Cơ uan cảnh sát điều tra Công an uận H ng Bàng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Alantie, gắn Biển kiểm soát 16H6-8088 để điều tra làm rõ ngu n gốc, l sau (đang tạm giữ tại cơ uan Thi hành án dân sự uận H ng Bàng);

Các bị cáo DDH, TVH và NVK phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đ ng t nhận định như sau:

Về tài liệu, chứng cứ Cơ uan cảnh sát điều tra, Công an uận H ng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân uận H ng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng uy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên t a, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, uyết định tố tụng của Cơ uan cảnh sát điều tra, Công an uận H ng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân uận H ng Bàng, Kiểm sát viên trong uá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm uyền, trình tự, thủ tục uy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có kiến ho c khiếu nại về hành vi, uyết định của các cơ uan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, uyết định tố tụng của các cơ uan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Về chứng cứ ác định bị cáo có tội: Tại phiên t a, các bị cáo DDH, TVH và NVK đều nhận tội. Lời khai của các bị cáo thống nhất với nhau phù hợp với lời khai của bị cáo TVH tại Cơ uan điều tra về thời gian, địa điểm, động cơ, mục đích phạm tội; về phương thức, thủ đoạn phạm tội và đ c điểm tài sản bị chiếm đoạt. Việc nhận tội của các bị cáo c n được chứng minh bằng các biên bản ghi lời khai của bị hại, người làm chứng, sơ đ hiện trường vụ án, các vật chứng được thu giữ tại hiện trường, bản Kết luận định giá tài sản số 23/ĐTTS-HĐĐG ngày 13-8-2020 của Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân uận F. Như vậy, có đủ cơ s kết luận vào khoảng 22 giờ ngày 11-8-2020, các bị cáo đã có hành vi bàn bạc, cùng nhau lợi dụng sơ h , l n lút chiếm đoạt 02 chiếc thuyền gỗ tại khu vực Trạm cống thoát nước đảo triều h Điều H a của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên TN. Tổng giá trị 02 chiếc thuyền gỗ là 12.000.000 đ ng (6.000.000 đ ng/chiếc). Vì vậy, hành vi của các bị cáo DDH, TVH, NVK và TVH đã đ ng phạm tội Trộm cắp tài sản theo uy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo đã âm hại đến uyền s hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự công cộng. B i vậy, cần phải được l theo uy định.

TVH sau khi T a án có Quyết định đưa vụ án ra t sơ thẩm, bị cáo đã ốm chết vào ngày 10-01-2021 (Trích lục khai tử số 26/2021/TLKT-BS ngày 08-3-2021 của UBND phường W, quận X, Hải Phòng). Vì vậy, căn cứ uy định tại khoản 7 Điều 157, Điều 282 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ vụ án đối với bị cáo TVH.

Xét vai trò của các bị cáo: Bị cáo DDH là người kh i ướng, rủ rê các bị cáo khác, cung cấp toàn bộ phương tiện, công cụ phạm tội và thực hành tích cực việc trộm cắp tài sản. Do đó, DDH phải chịu trách nhiệm chính. Tiếp theo, là bị cáo TVH cũng thực hành tích cực, trực tiếp mang tài sản đi tẩu tán, cất giấu. Với khả năng nghề nghiệp thuyền chài nên TVH có vai tr uyết định trong việc lấy cắp và tẩu tán trót lọt 02 chiếc thuyền đã chiếm đoạt được. Bị cáo NVK tham gia điều khiển phương tiện ch đ ng phạm đến hiện trường và cảnh giới nên có vai trò giúp sức.

Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo DDH, TVH và NVK do 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và mỗi lần đều đủ các yếu tố cấu thành tội. B i vậy, DDH, TVH và NVK phải chịu tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” uy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo DDH, TVH và NVK đều thành khẩn khai báo nên được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự uy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, sau khi phạm tội, TVH đã ra đầu thú nên được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự uy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Thấy rằng, bị cáo DDH có vai tr kh i ướng và tích cực trong việc phạm tội, song bị cáo TVH cũng thực hành tích cực và là người uyết định đến việc chiếm đoạt, tẩu tán tài sản, trực tiếp chèo 02 chiếc thuyền trộm cắp được, điều khiển về khu vực sinh sống của mình tại bến đ M để cất giấu. Không có TVH thì việc chiếm đoạt tài sản không thực hiện được chót lọt do các bị cáo khác không biết chèo thuyền. Nhân thân TVH có 04 tiền án như đã nêu tại phần căn cước, m c dù đều đã được óa án tích nhưng phải đánh giá là bị cáo có nhân thân ấu. B i vậy, cần áp dụng mức hình phạt đối với DDH và TVH bằng nhau. Đối với bị cáo NVK nhân thân chưa tiền án, tiền sự, phạm tội có vai tr thứ yếu nên uyết định mức hình phạt thấp hơn so với các đ ng phạm. Tuy nhiên, do bị cáo cũng phạm tội nhiều lần, tại giai đoạn chuẩn bị t TVH và NVK vi phạm biện pháp ngăn ch n, bị bắt tạm giam để t . B i vậy, cần thiết phải buộc cả 03 bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và ph ng người tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: X t thấy, không chứng minh được các bị cáo có tài sản riêng; có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về l vật chứng:

Đối với 01 ổ khóa đã bị cắt móc treo của bị hại, không c n giá trị s

dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 kìm cộng lực tạm giữ của DDH, t là công cụ phạm tội, không c n giá trị s dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc e mô tô nhãn hiệu Alantie, gắn Biển kiểm soát 16H6-8088. Tại phiên t a, bà NLQ ác định không phải e của bà bán cho DDH. Bà NLQ chỉ đứng ra giới thiệu người bán e cho Hùng và không hư ng lợi gì từ việc này. X t thấy, chiếc e mô tô có đăng k tại Ph ng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hải Ph ng. Tuy nhiên, Cơ uan điều tra chưa tìm được chủ s hữu xe; chưa làm thủ tục thông báo tìm kiếm theo uy định. B i vậy, chấp nhận kiến của đại diện Viện Kiểm sát, chuyển lại chiếc e cho Cơ uan cảnh sát điều tra Công an uận H ng Bàng làm rõ, l sau.

Về trách nhiệm dân sự: 02 chiếc thuyền gỗ đã được thu h i trả lại bị hại, Bị hại đã nhận lại đầy đủ và không có yêu cầu gì khác, nên không có việc b i thường.

Về án phí: Các bị cáo DDH, TVH và NVK phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo uy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; x phạt: DDH 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 11-9-2020.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; x phạt: TVH 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 27-3-2021. Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 13-8-2020 đến ngày 15-8-2020.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; x phạt: NVK 15 (mười lăm) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 27-3-2021. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13-8-2020 đến ngày 15-8-2020.

Căn cứ khoản 7 Điều 157, Điều 282 của Bộ luật Tố tụng hình sự; đình chỉ vụ án đối với bị cáo TVH (đã chết).

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu hủy 01 ổ khóa đã bị cắt móc treo và công cụ phạm tội là 02 chiếc kìm cộng lực không c n giá trị s dụng (Biên bản bàn giao ngày 04-01-2021).

Chuyển lại chiếc e mô tô nhãn hiệu Alantie, gắn Biển kiểm soát 16H6-8088 cho Cơ uan cảnh sát điều tra Công an uận H ng Bàng làm rõ, l sau (Biên bản bàn giao ngày 04-01-2021).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị uyết của UBTV Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, uản l và s dụng án phí và lệ phí Toà án;

DDH, TVH và NVK phải nộp mỗi bị cáo 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có uyền lợi, nghĩa vụ liên uan được uyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Bị hại có uyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c niêm yết bản án theo uy định./.

Cỡ chữ