- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án về tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật hình sự Tuyên bố; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2021/HS-ST Ngày: 28-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Hường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hải.
Ông Bùi Văn Sinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Vũ Bình- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Hiền Nhỏ- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 và 28 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2021/HSST-QĐ ngày 07 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Thị Kim H, sinh năm 1995 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Khóm A, phường X, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Nam Thái, sinh năm 1943 và bà Lê Thị Húng, sinh năm 1955; có chồng là anh Trần Minh Nhớ và có 01 con chung sinh năm 2016; Tiền sự: Ngày 16-4-2021, bị Công an phường An Bình A, thành phố Hồng Ngự xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vị trôm cắp tài sản (chưa nộp phạt); Tiền án: Ngày 24 -8-2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị tạm giữ: Không.
Bị tạm giam: Từ ngày 04-5-2021.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
1. Nguyễn Văn G, sinh năm 1954 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Đoàn Thị K, sinh năm 1961 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cùng cư trú: Ấp C, xã B, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
-Người làm chứng: Nguyễn Văn N, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Cư trú: Ấp C, xã B, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ ngày 21-4-2021, Lê Thị Kim H đi xe buýt từ nhà ở Khóm A, phường X, thành phố Hồng Ngự đến bến xe buýt thành phố Hồng Ngự thì gặp người đàn ông tên M (H không biết họ và địa chỉ). Lúc này, M kêu H lên xe để chở đi trộm cắp tài sản thì H đồng ý, sau đó M điều khiển xe mô tô chở H đến 01 cây cầu (H không nhớ tên) và kêu H xuống xe, lúc này thì M điện thoại kêu người lại rước H đi trộm cắp tài sản, sau đó M điều khiển xe chạy đi. Khoảng 30 phút sau, có người đàn ông tên Chí (H không biết họ và địa chỉ) chạy đến và chở H. Khi đến nhà ông Nguyễn Văn G, tại Ấp C, xã B, huyện Tân Hồng thì Chí dừng xe và kêu H vào nhà ông G trộm cắp tài sản, còn Chí chạy xe đi và nói chút quay lại rước, sau đó H vào nhà ông G thấy bà Đoàn Thị K (vợ ông G) đang nằm ngủ trên võng, H giả vờ hỏi “ Dì ơi, có xe Honda đò không?” nhưng không thấy bà K trả lời. H nhìn thấy trên giường có 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đang sạc pin nên H đi đến rút dây sạc, bỏ điện thoại vào túi quần bên phải đang mặc và đi ra ngoài thì bà K thức dậy phát hiện truy hô mọi người xung quanh bắt giữ H và trình báo đến Công an xã Bình Phú, huyện Tân Hồng.
Trước đó, ngày 07-4-2021, H có hành vi trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị Khiếm, tại Ấp Phú Thọ, xã An Long, huyện Tam Nông là 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A71, trị giá 4.700.000đồng nên đã bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xử phạt 09 tháng tù vào ngày 24-8-2021.
* Vật chứng của vụ án thu giữ được:
- 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng đen. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng đã trả lại cho ông Nguyễn Văn G quản lý sử dụng.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 23/KL-HĐĐG ngày 26-4-2021 của Hội đồng định giá trị tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Hồng kết luận: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng đen, giá trị sử dụng 95%, có giá trị 3.315.000đồng.
Đối với người nam tên M và tên Chí (không rõ họ và địa chỉ). Hiện nay, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện Tân Hồng chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 16/CT- VKSTH ngày 23-7-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Lê Thị Kim H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là có lỗi và vi phạm pháp luật.
Tại phần luận tội, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Thị Kim H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không. Về tình tiết giảm nhẹ, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự do bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Từ đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ: 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt của Bản án số 27/2021/HS-ST ngày 24-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng từ về tội “ Trộm cắp tài sản”.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét giải quyết.
Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận và tại nói lời sau cùng, bị cáo Lê Thị Kim H xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị hại Nguyễn Văn G và Đoàn Thị K vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt; Người làm chứng Nguyễn Văn N vắng mặt nhưng đã có lời khai ở cơ quan điều tra. Căn cứ vào các Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người bị hại và người làm chứng.
[2] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Hồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố, phù hợp với lời khai bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ được và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo lợi dụng lúc bà Đoàn Thị K đang ngủ đã lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn G và bà Đoàn Thị K là 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng đen, giá trị 3.315.000đồng, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo trên 18 tuổi, không bị hạn chế về nhận thức, không có nhược điểm về thể chất và thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ cơ sở cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự .
[4] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại, gây lo lắng trong cộng đồng dân cư và gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bên cạnh đó, bị cáo đã bị xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 27/2021/HS-ST ngày 24-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự thì bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định.
[5] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, năn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng.
[7] Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong ở giai đoạn điều tra nên không xem xét giải quyết.
[9] Về án phí: Bị cáo Lê Thị Kim H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Xét thấy phát biểu luận tội và đề nghị xử lý của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật hình sự
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim H 01 (một) năm tù. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 27/2021/HS-ST ngày 24-8-2021 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” nên buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo (ngày 04-5-2021).
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Thị Kim H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28-9-2021). Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND tỉnh ĐT; - Sở Tư pháp tỉnh ĐT; - VKSND huyện Tân Hồng, tỉnh ĐT; - Cơ quan CSĐT CA Tân Hồng, ĐT; - Cơ quan THAHS CA Tân Hồng, ĐT; - CC THADS huyện Tân Hồng, tỉnh ĐT; - UBND X, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; - Bị cáo, bị hại; - Lưu: HS VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Phạm Thị Mỹ Hường |