vanban.org

Bản án 21/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Tuyên án 29/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh C phạm tội “ Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”;

Xử phạt bị cáo Lê Mạnh C 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án, ngày 29 tháng 3 năm 2021. Giao bị cáo Lê Mạnh C cho Uỷ ban nhân dân xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định nơi cư trú của bị cáo giám sát giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bc Lê mạnh Chiểu - phạm tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (điều 357 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh C phạm tội “ Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2021/HS-ST
Ngày: 29 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Biền.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đàm Văn Kiều.

2. Ông Đào Văn Rạng.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Ông Hà Viết Chinh – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 và 29 tháng 01 năm 2021 tại Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2021 đối với:

* Bị cáo: Lê Mạnh C - Sinh ngày 10 tháng 12 năm 1965 tại tỉnh Nam Định.

Nơi cư trú: Xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nguyên Phó bí thư Chi bộ - Trưởng Xóm 10, xã Nghĩa Trung; trình độ học vấn: 10/10; giới tính: Nam; con ông Lê Khắc Nhĩ, sinh năm 1936, đã chết năm 2009 và bà Trần Thị Thêm, sinh năm 1936, hiện sinh sống tại xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định; gia đình có 05 anh em, C là con thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị Hải, sinh năm 1965, hiện làm ruộng tại xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định; có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1993. Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo Lê Mạnh C là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Ngày 26 tháng 8 năm 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã có công văn số 1040 gửi Đảng bộ xã Nghĩa Trung và Ủy ban kiểm tra huyện ủy N đề nghị xử lý.

Bị cáo Lê Mạnh C hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Ngọc – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Nam Định; có mặt.

* Nguyên đơn dân sự: Uỷ ban nhân dân huyện N. Đại diện theo pháp luật: ông Trần Văn Dương – Chủ tịch UBND huyện; vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Uỷ ban nhân dân xã Nghĩa Trung. Đại diện theo pháp luật: Ông Tống Xuân Chúc – Chủ tịch UBND xã; vắng mặt.

2. Xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N. Đại diện là ông Đặng Minh Cẩn – Trưởng xóm.

3. Ông Nguyễn Thế Bắc, sinh năm 1962 và bà Vũ Thị Khuyến, sinh năm 1968; nơi cư trú: Xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định.

4. Ông Lương Văn Quý, sinh năm 1963 và bà Lương Thị Sen, sinh năm 1974; nơi cư trú: Xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định.

5. Ông Nguyễn Văn Tý, sinh năm 1970; nơi cư trú: Xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định.

* Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Văn Lập, sinh năm 1963; địa chỉ: Xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định.

2. Bà Nguyễn Thị Vân, sinh năm 1958; địa chỉ: Xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định.

4. Anh Nguyễn Tiến Kha, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định.

5. Ông Nguyễn Văn Chiến, sinh năm 1951; địa chỉ: Xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định.

6. Ông Trần Thế Bảo, sinh năm 1950; địa chỉ: Xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 2008, Lê Mạnh C được bầu giữ chức vụ Phó bí thư chi bộ - Trưởng xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định. Do cần tiền để xây dựng Nhà văn hóa xóm và không để dân phải đóng góp. Ngày 06 tháng 3 năm 2011, Lê Mạnh C chủ trì họp ban hương ước xóm 10, xã Nghĩa Trung thống nhất lấy 200 mét vuông đất phía đông trong tổng diện tích 800 mét vuông đất nhà văn hóa xóm 10, xã Nghĩa Trung tại thửa 120, tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính xã Nghĩa Trung lập năm 2010 (Thửa đất này là đất trồng lúa nước, đã được Ủy ban nhân dân huyện N quy hoạch đất nhà văn hóa năm 2008) chia làm 02 suất cho thuê lâu dài, trái thẩm quyền mỗi suất có giá khởi điểm là 100.000.000 đồng để lấy kinh phí xây dựng nhà văn hóa. Ngày 08 tháng 4 năm 2011, Lê Mạnh C cùng với ban kiến thiết nhà văn hóa xóm 10, xã Nghĩa Trung gồm: Ông Nguyễn Thế Vinh (đã chết năm 2018), ông Tống Xuân Tam, ông Nguyễn Văn Sửu (đã chết năm 2016), ông Nguyễn Văn Lập và đại diện các đoàn thể của xóm 10 tổ chức đấu thầu công khai cho thuê đất lâu dài (không thời hạn) 200 mét vuông đất phía đông trong đất nhà văn hóa. Kết quả đấu thầu có 02 hộ gia đình, hộ ông Lương Văn Quývà hộ ông Nguyễn Văn Tý đều ở xóm 10, xã Nghĩa Trung trả giá cao nhất được trúng thầu, cụ thể: Hộ ông Lương Văn Quý được thuê lâu dài 100 mét vuông đất ngoài cùng phía đông đất xây nhà văn hóa với giá 120.000.000 đồng; hộ ông Nguyễn Văn Tý được thuê lâu dài 100 mét vuông đất liền kề với đất của hộ ông Lương Văn Quý với giá 125.000.000 đồng, nhưng thực tế ông Tý mới nộp 115.000.000 đồng.

Ngày 12 tháng 5 năm 2011, Lê Mạnh C chủ trì giao đất cho hộ ông Lương Văn Quý và hộ ông Nguyễn Văn Tý. Tổng số tiền 235.000.000 đồng, Lê Mạnh C trực tiếp thu và đã sử dụng để xây dựng nhà văn hóa hết. Trong quá trình xây dựng Nhà văn hóa, do tổng quyết toán xây dựng thiếu. Ngày 16 tháng 8 năm 2011, ông Lương Đức Hải - Bí thư Chi bộ xm 10 thống nhất giao cho xóm trực tiếp là Lê Mạnh C lấy thêm 100 mét vuông đất nhà văn hóa liền kề phía đông cho hộ ông Nguyễn Văn Bắc thuê lâu dài với giá 120.000.000 đồng. Ngày 29 tháng 8 năm 2011, thực hiện tinh thần hội nghị trên, Lê Mạnh C đã thu tiền, viết giấy biên nhận và tổ chức giao đất cho hộ ông Nguyễn Văn Bắc. Số tiền 120.000.000 đồng, Lê Mạnh C đã sử dụng để xây dựng nhà văn hóa. Sau khi được thuê đất, hộ ông Lương Văn Quý, Nguyễn Văn Tý và hộ ông Nguyễn Văn Bắc đã sử dụng làm vườn.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thu giữ của ông Nguyễn Văn Lập nguyên là Trưởng xóm 10, xã Nghĩa Trung (Nhiệm kỳ 2013 - 2018): 01 quyển sổ bìa ghi “Sổ mời họp Xóm 10” có chữ ký của ông Lê Mạnh C, gồm 18 tờ có ghi nội dung các cuộc họp bàn về việc cho thuê đất nhà văn hóa lâu dài và việc đấu thầu thuê đất; 01 quyển sổ bìa ghi “Ghi chép biên bản xây dựng nông thôn mới Xóm 10” gồm 14 tờ có ghi nội dung; 01 quyển sổ bìa ghi “Họp hội đồng hương ước Xóm 10” gồm 14 tờ có ghi nội dung; 01 biên bản hợp đồng cho thuê đất lâu dài nhà văn hóa Xóm 10 Nghĩa Trung gồm 03 trang. Khám xét chỗ ở của Lê Mạnh C thu giữ: 01 quyển sổ gồm 03 tờ giấy có ghi nội dung biên nhận tiền thuê đất nhà văn hóa xóm 10, xã Nghĩa Trung giữa Lê Mạnh C với các ông Nguyễn Văn Bắc, ông Lương Văn Quý và ông Nguyễn Văn Tý. (Bút lục: 46 - 50).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành kiểm tra thực địa 03 thửa đất hộ ông Lương Văn Quý, hộ ông Nguyễn Văn Tý và hộ ông Nguyễn Văn Bắc, xác định: trong quá trình sử dụng đất của các hộ dân có sự chênh lệch so với diện tích đất được giao ban đầu, cụ thể: Hộ ông Lương Văn Quý, Nguyễn Văn Tý và Nguyễn Văn bắc đều có diện tích 102,44 mét vuông, trong đó chiều dài 19,7 mét, chiều rộng 5,2 mét; trên đất đã được san lấp và sử dụng làm vườn (Bút lục: 13 - 20, 21 - 24, 26 - 31, 51 - 102, 200 - 208, 209 - 243).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trưng cầu định giá tài sản 300 mét vuông đất, tại thửa đất số 120, tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính xã Nghĩa Trung lập năm 2010, thuộc xóm 10, xã Nghĩa Trung. Tại bản kết luận định giá số 11/HĐ - ĐGTS, ngày 25 tháng 6 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận: Giá mỗi mét vuông đất của thửa đất số 120, tờ bản đồ số 11, bản đồ quy hoạch xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định lập năm 2010, diện tích 300 mét vuông thuộc xóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N. Loại đất: Đất chuyên trồng lúa nước (LUC) quy hoạch thành đất nhà văn hóa (DVH) tại thời điểm năm 2011 là 50.000 đồng trên một mét vuông. Tổng cộng là 15.000.000 đồng. (Bút lục: 11 - 12).

Ngày 16 tháng 11 năm 2018, Ủy ban kiểm tra huyện ủy N ra Quyết định thi hành kỷ luật Đảng đối với ông Nguyễn Văn Sơn nguyên là cán bộ địa chính xã Nghĩa Trung, ông Lê Mạnh C bằng hình thức cảnh cáo và bà Bùi Thị Thúy cán bộ đại chính xã Nghĩa Trung bằng hình thức khiển trách.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Lê Mạnh C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. (Bút lục: 200 - 208).

Tại phiên toà:

Nguyên đơn dân sự vắng mặt nhưng đã có quan điểm trong hồ sơ thể hiện: Uỷ ban nhân dân xã Nghĩa Trung đã thu hồi đất trả cho nhà nước, nay Uỷ ban nhân dân huyện không có yêu cầu gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Uỷ ban nhân dân xã Nghĩa Trung vắng mặt, có quan điểm thể hiện trong hồ sơ: Uỷ ban nhân dân xã đã phối hợp với các hộ dân thuê đất giải quyết thu hồi đất trả cho nhà nước và Uỷ ban nhân dân xã đã trả lại tiền thuê đất cho các hộ dân (cả gốc và lãi), nay Uỷ ban nhân dân xã không có yêu cầu gì khác.

Đại diện xóm 10 trình bày: Chính quyền địa phương cùng với cơ sở xóm đã làm việc với ba hộ dân thuê đất và đã thoả thuận giải quyết xong, nay xóm không có ý kiến gì.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đâị diện hộ ông Nguyễn Thế Bắc, ông Lương Văn Quý và ông Nguyễn Văn Tý đều có lời khai: sau khi xóm có chủ trương cho thuê đất lâu dài, các hộ đã làm đơn xin thuê đất và được xóm chấp thuận. Sau khi sự việc xảy ra, chính quyền địa phương cùng với xóm đã trả lại tiền gốc và lãi theo quy định của Ngân hàng, các hộ đã trả lại đất cho Uỷ ban nhân dân xã và không có yêu cầu bồi thường khác.

Bản cáo trạng số 80/CT - VKS ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo về tội “ Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 357 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như tội danh và điều luật đã nêu. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 357; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lê Mạnh C từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm; về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết; đề nghị áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Nhất trí với tội danh và khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 357; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để tuyên bị cáo với mức án thấp nhất.

Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi và tranh luận bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo ra trước phiên toà hôm nay. Như vậy đã đủ cơ sở xác định: Năm 2008, Lê Mạnh C khi đó là Phó bí thư chi bộ - Trưởng ãóm 10, xã Nghĩa Trung, huyện N do cần tiền để xây dựng Nhà văn hóa và không để dân phải đóng góp, đã chủ trì họp ban hương ước xóm 10, xã Nghĩa Trung, tự ý tổ chức cho thuê đất lâu dài, trái thẩm quyền phần đất nằm phía đông trong đất nhà văn hóa xóm 10, xã Nghĩa Trung (tại thửa 120, tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính xã Nghĩa Trung lập năm 2010, là đất trồng lúa nước đã được Ủy ban nhân dân huyện N quy hoạch là đất nhà văn hóa năm 2008) cho 03 hộ dân thuê lâu dài: Hộ ông Lương Văn Quý thuê 100 mét vuông với giá 120.000.000 đồng, hộ ông Nguyễn Văn Tý thuê 100 mét vuông với giá 125.000.000 đồng và hộ ông Nguyễn Văn Bắc thuê 100 m2 với giá 120.000.000 đồng, gây thiệt hại 15.000.000 đồng. Hành vi của Lê Mạnh C đã vi phạm Điều 37 Luật đất đai năm 2003 và khoản 2 Điều 3 Nghị định số 181 ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính Phủ về thi hành luật đất đai năm 2003. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật Hình sự.

(Thời điểm bị cáo phạm tội đang áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009. Tuy nhiên mức hình phạt tại khoản 1 Điều 282 Bộ luật Hình sự năm 1999 so với khoản 1 Điều 357 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đều mức hình phạt từ 01 năm đến 07 năm tù. Như vậy hành vi của bị cáo Lê Mạnh C đã phạm tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật hình sự năm 2015).

Hành vi của bị cáo bị cáo đã xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; gây mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, lên án xử lý nghiêm minh là cần thiết nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử , bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo Lê Mạnh C được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bố đẻ của bị cáo là ông Lê Khắc Nhĩ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhì do có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hành vi bị cáo thực hiện không phải vì vụ lợi cá nhân mà vụ lợi cho nhân dân xóm 10, xây nhà văn hoá, thể hiện việc bị cáo nôn nóng trong việc thực hiện chủ trương, xây dựng nông thôn mới của Đảng, Chính phủ nên cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường khác nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với ông Lương Đức Hải nguyên Bí thư Chi bộ xóm 10, xã Nghĩa Trung, năm 2011, đã chết năm 2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không xử lý theo quy định.

Đối với những người trong ban kiến thiết xây dựng nhà văn hóa cùng trưởng các đoàn thể xóm 10, xã Nghĩa Trung, tham gia cùng ông Lê Mạnh C đứng ra tổ chức cho thuê đất lâu dài gồm: Ông Nguyễn Thế Vinh (Ông Vinh đã chết năm 2008), ông Tống Xuân Tam, ông Nguyễn Văn Sửu (Ông Sửu đã chết năm 2016), ông Nguyễn Văn Lập, ông Đặng Minh Cẩn, ông Nguyễn Văn Khang, bà Nguyễn Thị Vân, bà Trần Thị Hương Liên và ông Nguyễn Tiến Kha. Quá trình điều tra xác định mặc dù tham gia hội nghị cho thuê đất, nhưng do thiếu hiểu biết pháp luật và thực hiện theo chỉ đạo của Lê Mạnh C và Lương Đức Hải. Vì vậy hành vi của ông Nguyễn Thế Vinh, ông Tống Xuân Tam, ông Nguyễn Văn Sửu, ông Nguyễn Văn Lập, ông Đặng Minh Cẩn, ông Nguyễn Văn Khang, bà Nguyễn Thị Vân và bà Trần Thị Hương Liên chưa đến mức xử lý hình sự, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với các ông, bà nguyên Bí thư Đảng ủy xã Nghĩa Trung, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Trung, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Trung phụ trách đất đai và cán bộ địa chính xã Nghĩa Trung, năm 2011 để xảy ra việc cho thuê đất trái thẩm quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra xử lý sau.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 357; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh C phạm tội “ Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”;

2. Xử phạt bị cáo Lê Mạnh C 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án, ngày 29 tháng 3 năm 2021.

Giao bị cáo Lê Mạnh C cho Uỷ ban nhân dân xã Nghĩa Trung, huyện N, tỉnh Nam Định nơi cư trú của bị cáo giám sát giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mặt nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho người có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ