- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Hửu Đ.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NH TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2021/HS-ST Ngày 27 - 8 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NH, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hải Nam.
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Tẩn
+ Ông Bùi Anh Trí
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện NH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NH tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Khai – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện NH xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2021/TLST-HS ngày 21/5/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 247/2021/QĐXXST-HS, ngày 20/7/2021, quyết định hoãn phiên tòa số 275/2021/QDDST – HSST ngày 05/8/2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn T, giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 20 tháng 10 năm 1990 tại thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã E, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Trung C và bà Đỗ Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/01/2021 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Võ Hửu Đ; tên gọi khác: K1; giới tính: Nam; sinh ngày: 23 tháng 02 năm 1990 tại huyện R, tỉnh Kiên Giang; nơi ĐKHKTT: Tổ 9 - Phường Lê Y, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; tạm trú: Số 900/21/4 U, phường O, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Võ Mạnh C1 và bà Trần Thanh T1 (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/01/2021 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Chị Võ Thị N, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện G, tỉnh Quảng Ngãi . (Vắng mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn T là luật sư Lê Hoàng Hiếu – Công ty luật TNHH HK & Gia luật Chi nhánh Quảng Ngãi.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa; nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn T và Võ Hữu Đ có quan hệ quen biết với nhau và T đã nhiều lần đến phòng trọ của Đ ở địa chỉ: Số 900/21/4 U, phường O, thành phố Quảng Ngãi để sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Đ. Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 27/01/2021, T gọi điện thoại bằng ứng dụng Zalo cho Đ nói “K1 lấy giùm hai triệu rưỡi tiền đồ được không (Nghĩa là T nói Đ mua giúp 2.500.000 đồng tiền ma túy đá và Đ đồng ý. Sau đó, Đ liên lạc cho người có tên Danh (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể), số điện thoại “0974467414" ở thành phố Quảng Ngãi để mua ma túy đá với số tiền là 2.500.000 đồng. Đến khoảng 9 giờ cùng ngày T điều khiển xe mô tô biển số 76S7-8214 đến phòng trọ của Đ chờ lấy ma túy. Nguyễn T đưa cho Đ số tiền 1.500.000 đồng với điện thoại di động của T ra ngoài phòng trọ giao cho Danh và nhận 01 túi ni lông bên trong có chứa ma túy đá. Đ cầm túi ni lông bên trong có ma túy đá vào bên trong phòng trọ giao cho T, lúc đó T lấy một ít ma túy đá trong túi ni lông để cùng với Đ sử dụng. Tiếp đó, T hỏi Đ “có băng keo hai mặt không", Đ nói có và đưa cuộn băng keo hai mặt cho T, T cất giấu ma túy vào trong người bằng cách lấy băng keo hai mặt dán túi ni lông dựng ma túy vào đầu gối chân phải, rồi mượn của Đ 01 điện thoại di động hiệu NOKIA loại bàn phím để sử dụng, nói với Đ là lát quay lại. T điều khiển xe mô tô rời khỏi phòng trọ của Đ. Đến 09 giờ 45 phút cùng ngày, T điều khiển xe đến khu dân cư K ở tổ dân phố N, thị trấn M, huyện NH với mục đích gặp Võ Thị N và rủ N sử dụng số ma túy trên. Khi vừa đến khu dân cư K thì T bị tổ công tác Công an huyện NH phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ những đồ vật gồm:
01 túi ni lông bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng đục, Nguyễn T khai nhận các hạt tính thể máu trắng chứa trong túi nylon trên là ma túy đá.
01 xe mô tô mang biển kiểm soát 7657 – 8214.
01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, loại bàn phím.
01 mũ bảo hiểm xe máy màu đen, 01 mũ lưỡi trai vải màu trắng, 01 áo khoác vải màu xanh đen.
Số tiền 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng).
Ngày 29/01/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng có Kết luận giám định số 154/KLGD-PC09, kết luận: “Chất rắn dạng hạt tinh thể màu trắng bên trong túi ny lông gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 1,61 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Ngày 25/2/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện NH đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 34/CSĐT(HS), trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi giám định đối với 02 điện thoại thu giữ của các đối tượng Nguyễn T, Võ Hửu Đ.
Ngày 12/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi có Kết luận giám định số 228/KLGD-PC09, kết luận về dữ liệu lưu trữ trong điện thoại di động của Nguyễn T, Võ Hửu Đ. Trong dữ liệu Zalo trong điện thoại của Võ Hửu Đ có tin nhắn Zalo của Nguyễn T phù hợp với lời khai của Nguyễn T và Võ Hửu Đ.
Cáo trạng số 11/CT – VKS - NH, ngày 19/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố các bị cáo Nguyễn T, Võ Hửu Đ về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn T, Võ Hửu Đ về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn T, từ 15 đến 18 tháng tù; bị cáo Võ Hửu Đ từ 12 đến 15 tháng tù.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) túi ni lông bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng đục. Đây là ma túy loại Methaphetamine.
+ 01 (một) chai nhựa bên trong có nước, trên nắp chai có gắn 01 ống thủy tinh và 01 ống nhựa màu vàng – tím.
+ 01 ống thủy tinh dài 17 cm được gói trong một tờ giấy quảng cáo của siêu thị điện máy chợ lớn. Đây là công cụ để T sử dụng ma túy.
- Trả lại cho các bị cáo các tài sản sau:
+ Trả lại cho bị cáo Võ Hửu Đ 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen và 01 sim điện thoại, đây là tài sản của bị cáo Đ mượn của đối tượng tên Thảo (chưa rõ lai lịch), điện thoại này không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của T.
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn T 01 mũ bảo hiểm xe máy màu đen, 01 mũ lưỡi trai vải màu trắng, 01 áo khoác vải màu xanh đen không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của T.
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn T Số tiền 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng).
Tịch thu sung công quỹ 01(một) điện thoại di động, hiệu SAMSUNG, màu tím, loại cảm ứng đây là tài sản của Đ sử dụng làm phương tiện liên lạc với T và đối tượng tên Danh để mua ma túy cho T.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn T, Võ Hửu Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo T có các tình tiết giảm nhẹ như: Thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn do có anh trai bị bệnh câm điếc không có khả năng lao động, chị gái đã đi lấy chồng, em bị cáo mới chết, bị cáo đã hoàn thành xong nghĩa vụ quân sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự; kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, trình tự, thủ tục tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn T, Võ Hửu Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vậy có đủ cơ sở xác định: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 27/01/2021, bị cáo Nguyễn T gọi điện thoại cho bị cáo Đ nhờ bị cáo Đ mua giúp 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) ma túy và bị cáo Đ đồng ý. Bị cáo Đ liên lạc với một người tên Danh để mua ma túy. Khi bị cáo T đến chỗ nhà trọ của bị cáo Đ, bị cáo T lấy một ít ma túy đá trong túi ni lông mà bị cáo Đ mới mua giúp để cùng với bị cáo Đ sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong bị cáo T hỏi mượn bị cáo Đ băng keo hai mặt để dán số ma túy còn lại vào đùi để đem lên NH cùng hút với bạn của mình, trên đường đi thì bị cáo T bị Công an huyện NH bắt, thu giữ trên người bị cáo T:
- 01 túi ni lông bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng đục.
Tại bản Kết luận giám định số 154/KLGD-PC09, ngày 29/01/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng kết luận: “Chất rắn dạng hạt tinh thể màu trắng bên trong túi ny lông gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 1,61 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn T, Võ Hửu Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Các bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện nhà nước cấm lưu hành, cấm cá nhân tàng trữ nhưng chỉ vì ham muốn của cá nhân mà các bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo Nguyễn T là người chủ động điện thoại nhờ bị cáo Đ mua ma túy để đem đi sử dụng với bạn của mình tại huyện NH, hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội gây dư luận xấu trong Xã hội nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc.
Bị cáo Võ Hửu Đ khi nghe bị cáo T nhờ mua ma túy, bị cáo đã liên hệ với người bán ma túy để mua ma túy cho bị cáo Đ, sau khi được bị cáo T cho sử dụng chung ma túy trong số ma túy mới mua giúp thì bị cáo đã cho bị cáo T mượn băng keo để dán số ma túy còn lại để đem lên NH sử dụng với bạn, hành vi của bị cáo Đ là đồng phạm với bị cáo T nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) túi ni lông bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng đục. Đây là ma túy loại Methaphetamine
+ 01 (một) chai nhựa bên trong có nước, trên nắp chai có gắn 01 ống thủy tinh và 01 ống nhựa màu vàng – tím. Đây là công cụ để T và Đ sử dụng ma túy.
+ 01 ống thủy tinh dài 17 cm được gói trong một tờ giấy quảng cáo của siêu thị điện máy chợ lớn. Đây là công cụ để T sử dụng ma túy.
- Trả lại cho các bị cáo các tài sản sau:
+ Trả lại cho bị cáo Võ Hửu Đ 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen và 01 sim điện thoại, đây là tài sản của bị cáo Đ mượn của đối tượng tên Thảo (chưa rõ lai lịch), điện thoại này không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của T.
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn T 01 mũ bảo hiểm xe máy màu đen, 01 mũ lưỡi trai vải màu trắng, 01 áo khoác vải màu xanh đen không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của T.
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn T Số tiền 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng).
Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động, hiệu SAMSUNG, màu tím, loại cảm ứng đây là tài sản của bị cáo Đ sử dụng làm phương tiện liên lạc với bị cáo T và đối tượng tên Danh để mua ma túy cho bị cáo T.
Trong vụ án này bị cáo Võ Hửu Đ khai mua ma túy của một người tên Danh cơ quan Điều tra đã xác minh nhưng chưa làm việc được với người này khi nào xác minh, làm việc được sẽ xử lý sau.
Trong vụ án nay bị cáo T sử dụng xe mô tô mang biển kiểm soát 76S7 – 8214, đây là tài sản của bà Phan Thị Nhàn, bà Nhàn không biết việc bị cáo T tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT đã trả lại xe mô tô cho bà Nhàn là đúng quy định.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn T, Võ Hửu Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử thấy cần tăng hình phạt đối với hai bị cáo để răn đe đối với hai bị cáo và những người có ý định như hai bị cáo.
Không chấp nhận lời đề nghị của Luật sư cho bị cáo Nguyễn T được hưởng án treo vì lập luận của luật sư trái với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn T.
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Hửu Đ.
Căn cứ: Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn T, Võ Hửu Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 27/01/2021.
Xử phạt: Bị cáo Võ Hửu Đ 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 27/01/2021.
* Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 túi ni lông bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng đục. Đây là ma túy loại Methaphetamine
+ 01 chai nhựa bên trong có nước, trên nắp chai có gắn 01 ống thủy tinh và 01 ống nhựa màu vàng – tím.
+ 01 ống thủy tinh dài 17 cm được gói trong một tờ giấy quảng cáo của siêu thị điện máy chợ lớn.
- Trả lại cho bị cáo Võ Hửu Đ 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen và 01 sim điện thoại Viettel.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn T 01 mũ bảo hiểm xe máy màu đen, 01 mũ lưỡi trai vải màu trắng, 01 áo khoác vải màu xanh đen .
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn T Số tiền 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động, hiệu SAMSUNG, màu tím, loại cảm ứng và 01 sim điện thoại Vinaphone.
Số tang vật có đặc điểm theo biên bản giao nhận tang vật ngày24/6/2021 giữa đại diện cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện NH và cơ quan Công an huyện NH, số tiền đã được cơ quan Công an chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện NH tại tài khoản số 3949.0.1041648 ngày 22/6/2021.
3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn T, Võ Hửu Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện NH; - Cơ quan THAHS CA huyện NH; - Nhà tạm giữ CA huyện NH; - Cơ quan CSĐT CA huyện NH; - Chi cục THADS huyện NH; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Hải Nam |