- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo AT phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2021/HS-ST Ngày 17/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoa Như.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Huynh – Bí thư Đoàn xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô
2. Bà Hoàng Thị Thanh Hải – Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Nguyễn Du.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Đăk Tô
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
AT sinh ngày 11 tháng 7 năm 2005 tại tỉnh Kon Tum; nơi cư trú: Thôn Tê Rông, xã Văn Lem, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Xê Đăng; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông A Hoan và bà Y Truệ; tiền án: Không, tiền sự: không. Bị cáo được giao cho người đại diện bà Y Truệ giám sát từ ngày 08/9/2021 cho đến nay.
Nhân thân:
Ngày 06 tháng 9 năm 2021, bị Ủy ban nhân dân xã Đăk Trăm, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Không có giấy phép lái xe” .
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Y Truệ, sinh năm 1985, là mẹ đẻ của bị cáo. Địa chỉ: Thôn Tê Rông, xã Văn Lem, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Thị Kim Nguyệt – Trợ giúp viên
- 1 -
pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kon Tum.
- Người làm chứng: A Quân, sinh ngày 13/12/2005. Địa chỉ: Thôn Tê Rông, xã Văn Lem, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.
- Người đại diện hợp pháp cho người làm chứng: A Thơ, sinh năm 1985, là bố đẻ của người làm chứng. Địa chỉ: Thôn Tê Rông, xã Văn Lem, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.
- Người bị hại: A Thương, sinh năm 1959. Địa chỉ: Thôn Tê Rông, xã Văn Lem, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/9/2021 AT (sinh ngày 11/7/2005) đến nhà tìm A Quân (sinh ngày 13/12/2005) để rủ cùng trộm cắp trâu của ông A Thương. Nghe vậy, A Quân đang cần tiền để tiêu xài và đóng tiền phạt xe mô tô bị xử phạt vi phạm hành chính nên đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cả hai đến khu vực bãi đất trống nhà ông A Thương tại thôn Tê Rông, xã Văn Lem. Lúc này, AT bảo A Quân đứng chờ dưới rẫy cà phê để cảnh giới còn AT đến chỗ cột con trâu mẹ dùng tay tháo dây dắt đi thì có 01 (một) con trâu con không bị cột dây đi theo nên AT lùa cả (02) hai con trâu đến chỗ A Quân. Đến nơi, AT nói A Quân đi đằng sau để phụ lùa 02 (hai) con trâu dự định đến khu vực bãi cát tại thôn 6 xã Kon Đào sẽ cất giấu rồi tìm người mua. Tuy nhiên, đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 05/9/2021 khi đi đến đoạn thôn 3, xã Kon Đào thì công an xã Kon Đào và Công an xã Văn Lem phối hợp phát hiện và bắt quả tang AT còn A Quân bỏ chạy.
Kết luận định giá tài sản số 17, ngày 07/9/2021 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện Đăk Tô xác định 02 con trâu trị giá 46.400.000đ.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 13 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo AT về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm; các điểmb, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65; Điều 90, 91,100, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự 2015: xử phạt bị cáo AT từ 06 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 24 tháng.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo AT đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi, nhận thức còn hạn chế, nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo và áp dụng quy
- 2 -
định tại các điểm b, i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đảm bảo thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo AT đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để khẳng định:
Do lười lao động, muốn kiếm tiền bất chính nên khoảng 20 giờ ngày 04 tháng 9 năm 2021, lợi dụng sự lỏng lẻo trong quản lý tài sản của gia đình ông A Thương, AT cùng A Quân đã dắt trộm 02 (hai) con trâu (một con trâu mẹ và một con trâu con), có tổng giá trị tài sản là 46.400.000đ.
Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là các đối tượng lười lao động, lợi dụng sơ hở của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo AT về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, vì đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội.
Bị cáo Tuấn tuy tuổi còn nhỏ nhưng đã chủ động rủ rê A Quân đi trộm cắp tài sản, AT chủ động thực hiện hành vi trộm cắp trâu, không những trộm trâu mẹ mà còn dắt luôn cả trâu con (nghé). Hành vi thể hiện sự liều lĩnh, không có ý thức chấp hành pháp luật, sau khi bị lập biên bản xử phạt hành chính về hành vi vi phạm giao thông, bị cáo lại tiếp tục đi trộm cắp tài sản để lấy tiền nộp phạt, hành vi thể hiện sự xem thường kỷ cương, pháp luật của nhà nước và tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị ở mức cao của khung hình phạt (46.400.000 đồng).
Trong thời gian gần đây trên địa bàn huyện Đăk Tô liên tục xuất hiện tình trạng trộm cắp trâu bò của người dân, gây hoang mang dư luận địa phương, tạo
- 3 -
tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản và tác động xấu đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân .
Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và nhằm ổn định an ninh trật tự địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tài sản bị mất trộm cũng đã được thu hồi, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, khi phạm tội bị cáo đang ở độ tuổi (16 tuổi 02 tháng 07 ngày). Nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa đấy đủ nên áp dụng các điều luật của Bộ luật Hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, mức hình phạt cao nhất không quá ¾ mức phạt tù mà điều luật quy định.
Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại đã nhận lại được tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng vụ án:
- 01 (một) chiếc đèn pin là tài sản của cha mẹ bị cáo.
- 02 con trâu (01 trâu mẹ, 01 trâu con) là tài sản của ông A Thương – người bị hại.
Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là đúng pháp luật .
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn.
Ngoài ra, trong vụ án còn có A Quân là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với AT, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội A Quân chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (15 tuổi 8 tháng 21 ngày) nên Công an xã Văn Lem đã ra quyết định số 83/QĐ-XPHC ngày 28/9/2021 xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là có cơ sở.
Vì các lẽ trên;
- 4 -
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo AT phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Bị cáo AT 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo AT.
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/11/2021), bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Riêng người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kon Tum; - Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum; - VKSND tỉnh Kon Tum; - VKSND huyện Đăk Tô; - Chi cục THADS huyện Đăk Tô; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Tô; - Cơ quan THAHS Công an huyện Đăk Tô; - Bộ phận HSNV Công an huyện Đăk Tô; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu bản án; hồ sơ. - 5 - THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Thị Thanh Hải Nguyễn Văn Huynh - 6 - - 7 - - 8 - | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoa Như THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoa Như |