- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị H - Vũ Đình H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H đƣợc ly hôn anh Vũ Đình H.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2021/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 5 - 2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đới Văn Trinh
2. Ông Nguyễn Văn Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 26/2021/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2021 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 21/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/5/2021 giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 2000;
Địa chỉ: Thôn B, xã B, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
- Bị đơn: Anh Vũ Đình H, sinh năm 1997;
Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã B, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng;
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại: Đội 33, phân trại số 3, trại giam X, Cục C10, Bộ Công an (địa chỉ: Xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng).
- Ngƣời làm chứng: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Thôn L, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
Chị H, anh H, bà N đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/01/2021, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, chị Vũ Thị H trình bày:
Chị và anh Vũ Đình H đăng ký kết hôn ngày 22/6/2018, tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố C trên cơ sở tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán địa phƣơng. Sau ngày cƣới, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ anh H ở thôn B, xã B, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến đầu năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H thƣờng xuyên chơi bời với bạn bè, không chịu tu chí làm ăn và không quan tâm đến vợ con. Mọi việc trong gia đình chị đều phải lo toan, cáng đáng. Chị và gia đình khuyên bảo nhiều nhƣng anh H không chịu thay đổi. Do vậy, tình cảm vợ chồng ngày càng mất dần. Đầu năm 2020, anh H vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" và phải đi chấp hành án. Ngày 13/7/2020, sau khi anh H ra tù đƣợc mấy ngày lại tiếp tục trộm cắp tài sản và bị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử 21 tháng tù. Hiện tại, anh H đang chấp hành án phạt tù tại trại giam X. Nay chị xác định đã mất hết niềm tin và không còn tình cảm với anh H; vợ chồng cũng sống ly thân từ lâu và không thể về đoàn tụ đƣợc. Do vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh H. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Tuấn A, sinh ngày 29/9/2019. Hiện tại, con chung đang do chị trực tiếp nuôi dƣỡng. Nếu ly hôn, chị đề nghị giao con cho chị tiếp tục nuôi dƣỡng và không yêu cầu anh H phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Hiện tại, chị đang làm công nhân công ty trách nhiệm hữu hạn V, thu nhập bình quân khoảng 5.000.000đ/tháng. Chị đủ khả năng chăm sóc tốt cho con. Về quan hệ tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại đơn trình bày ngày 26/02/2021 và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, anh Vũ Đình H trình bày thống nhất các nội dung chị H đã trình bày về điều kiện kết hôn và quá trình chung sống giữa anh và chị H. Anh xác định ngày 10/01/2020, anh có phạm tội "Trộm cắp tài sản" và bị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 06 tháng tù. Đến ngày 10/7/2020, anh ra tù, vợ chồng vẫn chung sống bình thƣờng. Chị H và gia đình đã khuyên bảo anh cố gắng làm ăn, lo cho gia đình, con cái. Tuy nhiên, ngày 13/7/2020, do anh suy nghĩ không chín chắn nên lại tiếp tục vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 21 tháng tù. Sau đó, anh phải đi chấp hành án phạt tù tại đội 33, phân trại số 3, trại giam X. Từ đó đến nay, chị H chỉ đến thăm anh một lần và cƣơng quyết đòi ly hôn. Anh và gia đình đã khuyên bảo nhƣng chị H vẫn không chịu thay đổi ý định. Nay anh cảm thấy vẫn còn tình cảm với chị H nên anh không đồng ý ly hôn chị H. Về con chung: Anh H xác định vợ chồng có 01 con chung là Vũ Tuấn A nhƣ chị H trình bày. Hiện tại anh đang chấp hành án nên không thể nuôi con đƣợc. Do vậy, anh đề nghị để chị H tiếp tục nuôi dƣỡng, chăm sóc con. Anh không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị H. Về quan hệ tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bà Vũ Thị N - mẹ đẻ chị H trình bày xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H phát sinh từ năm 2018. Nguyên nhân là do anh H chơi bời, không chịu tu chí làm ăn, còn mang tài sản gia đình đi cắm ký. Khi chị H có thai thì anh H cũng không lo lắng, giúp đỡ gì. Gia đình đã khuyên bảo nhiều nhƣng anh H không chịu thay đổi. Toàn bộ công việc gia đình, chăm sóc con đều do chị H lo toan. Nhiều lần chị H cảm thấy buồn chán và bảo với bà là muốn ly hôn với anh H, nhƣng bà vẫn khuyên bảo động viên để chị H cố gắng tiếp tục chung sống với anh H. Khoảng cuối năm 2019, đầu năm 2020, anh H phạm tội "Trộm cắp tài sản" và phải đi tù. Giữa năm 2020, anh H ra tù đƣợc vài ngày lại tiếp tục phạm tội và đi tù tiếp. Nay bà thấy anh H không chịu thay đổi bản thân để giúp đỡ vợ, nên chị H xin ly hôn, quan điểm của bà là tùy chị H quyết định. Về con chung: Theo bà nên giao con Vũ Tuấn A cho chị H tiếp tục nuôi dƣỡng vì chị H nuôi dƣỡng cháu từ nhỏ đến nay. Anh H đang đi tù cũng không thể nuôi dƣỡng con đƣợc.
Tại phiên toà:
Chị H, anh H vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H đƣợc ly hôn anh Vũ Đình H. Về con chung: Xử giao con chung là con chung là Vũ Tuấn A, sinh ngày 29/9/2019 cho chị Vũ Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh H không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị H. Anh Vũ Đình H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh H thực hiện quyền này. Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của đƣơng sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đƣa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập nhƣng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ngƣời làm chứng là bà Vũ Thị N vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những ngƣời tham gia tố tụng.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Vũ Đình H cƣ trú tại: Thôn B, xã B, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Chị Vũ Thị H khởi kiện xin ly hôn anh H và đề nghị giải quyết về việc nuôi con chung, do vậy, đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh thụ lý giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Vũ Đình H kết hôn với nhau ngày 22/6/2018 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bắc An. Do vậy, hôn nhân của chị H, anh H là hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng trong cuộc sống. Anh H không chịu làm ăn, chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình với chị H; thƣờng xuyên vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án phạt tù. Dẫn đến tình cảm và niềm tin của chị H với anh H mất dần và không thể đoàn tụ đƣợc. Hội đồng xét xử thấy r ng việc anh H không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ chị H và không cùng chị H chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị H xin ly hôn anh H.
Về con chung: Cả chị H và anh H đều thống nhất quan điểm đề nghị giao con chung là Vũ Tuấn A, sinh ngày 29/9/2019 cho chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng. Xét chị H đang làm công nhân công ty trách nhiệm hữu hạn V, thu nhập bình quân khoảng 5.000.000đ/tháng, có đủ điều kiện để nuôi dƣỡng con chung. Anh H hiện tại đang phải chấp hành án phạt tù, không có điều kiện để nuôi dƣỡng con. Do vậy, cần căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận theo yêu cầu của chị H, anh H về việc giao con cho chị H tiếp tục nuôi dƣỡng mới đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung. Chị H không yêu cầu anh H phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị, đây là ý kiến tự nguyện của chị H, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên đƣợc chấp nhận. Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở.
Về quan hệ tài sản: Chị H, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H đƣợc ly hôn anh Vũ Đình H.
2. Về con chung: Xử giao con chung là con chung là Vũ Tuấn A, sinh ngày 29/9/2019 cho chị Vũ Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh H không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị H. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh H thực hiện quyền này.
3. Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị H đã nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0006802 ngày 26/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Chị H đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - UBND xã Bắc An (Để ghi sổ hộ tịch); - Các đƣơng sự; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Kim Giang |