vanban.org

Bản án 21/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Mỹ K đối với anh Đinh Minh P.

2/ Trách nhiệm nuôi dưỡng con chung sau ly hôn: 1 Giao người con tên Đinh Trần Diễm M sinh ngày 02.12.2016 cho chị Trần Thị Mỹ K tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo du ̣c cho đến tuổi trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Mỹ K đối với anh Đinh Minh P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AN NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 28-10-2021
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Lệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Minh Chiến

2. Bà Trương Thị Hiệp

- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Mai Đoan Thục - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã AnNhơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Đồng Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 259/2021/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 9 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 48/2021/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ K, sinh năm 1995 (có mặt)

HKTT: Đội 4, KV. H, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định

Hiện trú tại: Xóm G, thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định

* Bị đơn: Anh Đinh Minh P, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: Đội 4, KV. H, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai, các thủ tục tố tụng tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ K trình bày: Chị và anh Đinh Minh P có thời gian tìm hiểu khoảng 6 tháng và được hai gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N. Sau khi cưới vợ chồng sống tại nhà cha mẹ chồng ở KV.H, phường N, vợ chồng chung sống bình thường. Anh P làm công nhân ở khu công nghiệp N, còn chị làm công nhân may. Thời gian từ năm 2019 anh P bắt đầu chơi số đề, nhiều lần gây nợ nần nên chị phải trả nợ, có lúc trả nợ chưa xong thì anh P lại gây nợ nần tiếp từ đó vợ chồng mâu thuẫn nhưng chị không muốn tranh cãi lớn tiếng nên nhẫn nhịn chịu đựng, anh P cũng nhiều lần hứa hẹn từ bỏ nhưng không làm được. Đầu năm 2021 thì anh P chuyển sang chơi bầu cua tiếp tục nợ nần, lúc này chị cảm thấy mệt mỏi không thể chấp nhận cuộc sống chồng suốt ngày cờ bạc nợ nần nên chị dẫn con bỏ về nhà cha mẹ chị ở N sống. Sau đó mẹ chị có gọi anh P về nói chuyện nhưng anh P không chịu nhận việc làm của mình sai mà cứ nghĩ chơi rồi làm trả nợ; lúc này anh P tiếp tục hứa sẽ từ bỏ cờ bạc nhưng chị không còn tin tưởng anh P nữa, vợ chồng sống ly thân từ tháng 4 năm 2021. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, chị không thể tiếp tục chung sống với anh P nên kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh Đinh Minh P.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con tên Đinh Trần Diễm M sinh ngày 02.12.2016 hiện đang ở với chị. Ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu M, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo bản tự khai, biên bản ghi lời khai, các thủ tục tố tụng tiếp theo bị đơn anh Đinh Minh P trình bày: Thống nhất về thời gian cưới và có đăng ký kết hôn như chị K trình bày, sau khi cưới vợ chồng sống tại nhà cha mẹ anh ở KV. H, phường N. Vợ chồng chung sống bình thường, không có mâu thuẫn gì lớn, trước đây anh cũng có theo bạn bè chơi bầu cua có nợ nhưng anh vẫn xoay sở trả nên vợ chồng vẫn chung sống bình thường. Đến đầu năm 2021 do bạn bè rủ rê nên anh có chơi bầu cua và gây ra một số nợ, anh nói cho K biết rồi anh lo làm trả nợ và hứa sẽ từ bỏ thì thái độ K vẫn bình thường, chấp nhận bỏ qua cho anh nên vợ chồng không có kình cãi gì cả. Khoảng đầu tháng 6 năm 2021 thì K đưa con về nhà ngoại ở thôn Nam Tượng 1, xã N chơi nhưng sau đó không về nên anh đến nhà mẹ vợ đón vợ về thì K nói ly hôn chứ không về sống với anh, ngoài lý do anh chơi bầu cua thì vợ chồng không có mâu thuẫn nào khác. Anh không đồng ý ly hôn vì vẫn còn còn tình cảm với chị K nên mong muốn vợ chồng đoàn tụ.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con tên Đinh Trần Diễm M sinh ngày 02.12.2016 hiện đang ở với chị K. Nếu ly hôn anh yêu cầu nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con còn nếu chị K nuôi con thì anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Mỹ K được ly hôn với anh Đinh Minh P

2. Về con chung: Giao cháu Đinh Trần Diễm M cho chị Trần Thị Mỹ K nuôi dưỡng. Chị K không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.

3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Mỹ K và anh Đinh Minh P không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Đinh Minh P được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ K và anh Đinh Minh P có thời gian tìm hiểu, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, đây là nền tảng cho một gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên chị K, anh P chung sống một thời gian đã phát sinh mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân với nhau. Trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa chị K kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh P ngược lại anh P không đồng ý ly hôn vì cho rằng vẫn còn tình cảm với chị K. Xét yêu cầu của chị K, anh P thấy rằng: Từ việc anh P nhiều lần chơi bầu cua gây ra nợ nần đã làm gia đình mất hạnh phúc nhưng anh P không khắc phục, nghe theo lời rủ rê của bạn bè lại tiếp tục chơi gây ra nợ nần đã làm mất lòng tin của chị K đối với anh P, là nguyên nhân dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn sống ly thân; Tuy nhiên trong thời gian sống ly thân anh P cũng không có biện pháp tích cực để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hơn nữa qua xem xét mức độ căng thẳng của chị K, anh P trong quá trình hòa giải và trước thái độ kiên quyết của chị K tại phiên tòa, thấy rằng hôn nhân giữa chị K và anh P đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Mỹ K đối với anh Đinh Minh P.

Về con chung: Chị K, anh P xác định vợ chồng có 01 người con tên Đinh Trần Diễm M sinh ngày 02.12.2016 hiện đang sống với chị K, ly hôn chị K anh P cùng có yêu cầu nuôi dưỡng cháu M. Xét yêu cầu của chị K, anh P, Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ lúc vợ chồng mâu thuẫn sống ly thân thì chị K nuôi dưỡng cháu M và tính đến ngày xét xử, cháu M chưa tròn 5 tuổi, cháu vẫn còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó để đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý bình thường của cháu nên giao cháu Đinh Trần Diễm M cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Chị K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Tài sản chung và nợ chung: Chị K, anh P không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị K phải chịu theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội số 14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Mỹ K đối với anh Đinh Minh P.

2/ Trách nhiệm nuôi dưỡng con chung sau ly hôn:

2.1 Giao người con tên Đinh Trần Diễm M sinh ngày 02.12.2016 cho chị Trần Thị Mỹ K tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo du ̣c cho đến tuổi trưởng thành.

Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3/ Tài sản chung và nợ chung: Chị K, anh P không yêu cầu giải quyết.

4/ Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Trần Thị Mỹ K phải chịu 300.000đ được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền ta ̣m ứ ng án phi số 0004873 ngàý 25.6.2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Nhơn.

5/ Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên cấp xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng anh Đinh Minh P vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này lên cấp xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự cóquyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ