vanban.org

Bản án 21/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.

Buộc Bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D, anh Trần Văn V có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi tài sản do người chết để lại thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng số tiền là 25.491.225 đồng (hai mươi lăm triệu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NH nông Ngiệp - Nguyễn Thị Dãi"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2021/DS-ST
Ngày 11 - 3 - 2021
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoài Phong

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên tòa: Ông Dương Tấn Viễn – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 521/2020/TLST–DS ngày 10 tháng 12 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2021/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.

Địa chỉ trụ sở: Số 02 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Tiết Văn T là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Tổng giám đốc).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Thành: Ông Nguyễn Minh T – Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Đầm Dơi (Văn bản ủy quyền số 2965/QĐ-NHN0PC ngày 27/12/2019).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trí: Ông Hồ Thanh T - Trưởng phòng kế hoạch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Đầm Dơi (Văn bản ủy quyền số 06.2020/QĐ- NHN0ĐD ngày 26/10/2020).

Cư trú tại: Số 606 đường Trần Văn Phú, khóm 4, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. (có mặt)

- Bị đơn:

1. Bà Nguyễn Thị D , sinh năm 1973

2. Chị Trần Thị Lin Đ , sinh năm 2007.

3. Anh Trần Văn D , sinh năm 2005

4. Anh Trần Văn V , sinh năm 1997.

Cùng cư trú tại: Ấp Ngã Bát, xã Trần P, huyện Đ , tỉnh Cà Mau. (đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 10 năm 2020 của nguyên đơn và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hồ Thanh T trình bày:

Ngày 30/5/2016 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Đầm Dơi (gọi tắt Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau) và ông Trần Văn P ký kết hợp đồng cấp tín dụng số: 201603008/HDDTD ngày 30/5/2016; Phương thức cho vay hạn mức tín dụng; thời gian tối đa 36 tháng.

Để đảm cho cho hợp đồng tín dụng trên ông Trần Văn P thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất số C 158522 cấp ngày 06/12/1995 để đảm bảo nghĩa vụ.

Loại tài sản thế chấp: Bất động sản; Diện tích 29.700m2 số phát hành C 158522 bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng và đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 9 khoản 4 Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ.

Hiện nay dư nợ của ông Trần Văn P là 25.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 11/3/2021 là 491.225 đồng, tổng gốc và lãi là 25.491.225 đồng.

Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu người thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng những người thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc và lãi cho Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi, cố tình không hợp tác gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi và gây khó khăn trong công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của Agribank.

Nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam yêu cầu bà Nguyễn Thị D , chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D và anh Trần Văn V thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau số tiền tạm tính đến ngày 11/3/2021 là 25.491.225 đồng. Trong đó dư nợ của ông Trần Văn Phương là 25.000.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 11/3/2021 là 491.225 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh cho đến ngày trả hết nợ.

Trong trường hợp bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D và anh Trần Văn V là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Trần Văn Phương không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ sau khi Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm đã nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ cho Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau thì bà D, chị Đ, anh D và V có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ hoặc bổ sung tài sản để trả nợ cho Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau. Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất cứ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Trần Văn P để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Đây là nợ xấu theo quy định tại Điều 4 và đáp ứng điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau yêu cầu Tóa án nhân dân huyện Đầm Dơi xem xét giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D, anh Trần Văn V:

Trong quá trình Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D, anh Trần Văn V theo quy định pháp luật, nhưng các đương sự không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự là đúng với trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Án lệ số 08/2016AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2019 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau, buộc bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D và anh Trần Văn V phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau số tiền 25.491.225 đồng và lãi suất tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc trong phạm vi di sản do ông Trần Văn P để lại.

Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau về xử lý tài sản bảo đảm là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất số C 158522 cấp ngày 06/12/1995 do ông Trần Văn P đứng tên. Buộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 158522 cấp ngày 06/12/1995 tên Trần Văn Phương cho hàng thừa kế của ông Phương.

Án phí dân sự sơ thẩm các đương sự chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D, anh Trần Văn V là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng các đương sự vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử nhận thấy, ngày 30/5/2016, Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau và ông Trần Văn P ký kết hợp đồng cấp tín dụng số: 201603008/HDDTD; Phương thức cho vay hạn mức tín dụng; thời gian tối đa 36 tháng; số tiền vay 34.500.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông P vi phạm nghĩa vụ nên Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau khởi kiện. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng pháp luật: Hợp đồng tín dụng do các bên xác lập trước thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực, có nội dung và hình thực phù hợp với quy định Bộ luật dân sự năm 2015, nay xảy ra tranh chấp về hợp đồng tín dụng nên cần áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 giải quyết.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D, anh Trần Văn V những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông P thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam tổng số tiền dư nợ đến ngày 11/3/2021 là 25.491.225 đồng. Trong đó dư nợ của ông Trần Văn P là 25.000.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 11/3/2021 là 491.225 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh cho đến ngày trả hết nợ.

Hội đồng xét xử nhận thấy, theo Hợp đồng tín dụng số: 201603008/HDDTD ngày 30/5/2016 và Giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân ngày 30/5/2016, ông Phương có vay và của Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau số tiền 34.500.000 đồng. Thời hạn vay là 36 tháng; lãi suất thời điểm ký hợp đồng trong hạn là 7%/năm; lãi suất cho vay và phương thức trả lãi được ghi trên tưng thời điểm nhận nợ, sẽ được điều chỉnh khi lãi suất thị trường có sự biến động; lãi suất quá hạn bằng 150% so với lãi suất vay đã thỏa thuận được ghi trên giấy nhận nợ. Hợp đồng tín dụng này được hai bên thực hiện trên tinh thần tự nguyện, không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội, tuân thủ về nội dung và hình thức theo các Điều 385, Điều 401, Điều 402 Bộ luật dân sự, nên có hiệu lực đối với các bên tham gia. Các bên tham gia giao dịch có mọi quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông P trả nợ cho Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau được tổng số tiền 24.461.830 đồng, còn nợ Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau 25.491.225 đồng. Sau đó ông P không thanh toán bất cứ khoản nào cho cho Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau. Tuy nhiên, trong quá trình giao dịch với Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau vào ngày 29/6/2017 ông P tử vong theo trích lục khải tử số 42/2017/TLKT-BS ngày 03/7/2017 của Ủy ban nhân dân xã Trần Phán, huyện Đầm Dơi nên phía Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau đã liên hệ những người kế thừa, quyền nghĩa vụ của ông P nhiều lần, nhưng người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông P không thanh toán nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 201603008/HDDTD ngày 30/5/2016 nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Cũng như, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự: “…Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết…mà bên đượng sự đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh…”. Viện dẫn theo điều luật trên, từ khi Tòa án thụ lý đến khi xét xử đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà D , chị Đ , anh D và anh V nhưng các đương sự không tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ đối với yêu cầu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nên các đương sự phải chịu thiệt hại về sự vắng mặt của mình.

Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, buộc Bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D, anh Trần Văn V có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi tài sản do người chết để lại thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền vốn, lãi đến ngày xét xử là 25.491.225 đồng.

Đối với yêu cầu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam về việc tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày tất toán Hợp đồng tín dụng số: 201603008/HDDTD ngày 30/5/2016. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của Ngân hàng phù hợp theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2019 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận.

Ngoài ra, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam yêu cầu Tòa án xử lý tài sản thế chấp là bất động sản; Diện tích 29.700m2 số phát hành C 158522 ngày 06/02/1995 tên Trần Văn Phương phần đất tọa lạc tại ấp Ngã Bát, xã Trần Phán, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng và đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Hội đồng xét xử thấy rằng, theo Hợp đồng tín dụng số: 201603008/HDDTD ngày 30/5/2016 có nội dung “...Hình thức bảo đảm tiền vay: Áp dụng bảo đảm tiền vay: Không phải bảo đảm bằng tài sản...” nên Ngân hàng chỉ giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành C 158522 ngày 06/02/1995 tên Trần Văn P . Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về xử lý tài sản thế chấp. Buộc Agribank Chi nhánh huyện Đầm Dơi Cà Mau giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành C 158522 ngày 06/02/1995 tên Trần Văn P cho những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Phương là Bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D, anh Trần Văn V.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam yêu cầu Tóa án nhân dân huyện Đầm Dơi xem xét giải quyết theo thủ tục rút gọn do đây là nợ xấu theo quy định tại Điều 4 và khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội. Xét thấy, theo khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân quy định “Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là tranh chấp về việc bên bảo đảm, bên giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu không giao tài sản bảo đảm hoặc giao không đúng theo yêu cầu của bên nhận bảo đảm, bên có quyền xử lý tài sản bảo đảm để xử lý tài sản đó nhằm giải quyết nợ xấu..”. Viện dẫn theo điều luật trên, đây không thuộc trường hợp giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Ý kiến của viện kiểm sát tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “…đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận…”. Viện dẫn từ điều luật trên, buộc bà D, chị Đ , anh D và anh V phải chịu chi phí thẩm định số tiền là 500.000 đồng trong phạm vi tài sản do người chết để lại. Ông T là người đại nguyên đơn đã nộp chi phí thẩm định số tiền 500.000 đồng và đã được đối chiếu xong vào ngày 29/01/2021. Bà D , chị Đ , anh D và anh V có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 500.000 đồng nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi để hoàn trả lại cho nguyên đơn.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận”. Do đó, bà D , chị Đ , anh D và anh V phải chịu án phí sơ thẩm số tiền là 1.274.500 đồng trong phạm vi tài sản do người chết để lại (25.491.225 đồng x 5%).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 688, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 615 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2019 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Căn cứ vào khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 92, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.

1. Buộc Bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D, anh Trần Văn V có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi tài sản do người chết để lại thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng số tiền là 25.491.225 đồng (hai mươi lăm triệu bốn trăm chín mươi mốt ngàn hai trăm hai mươi lăm đồng). Trong đó nợ gốc là 25.000.000 đồng, nợ lãi là 491.225 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/3/2021) khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Bác yêu cầu khởi kiện của của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam về xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản; Diện tích 29.700m2 số phát hành C 158522 ngày 06/02/1995 tên Trần Văn P phần đất tọa lạc tại ấp Ngã Bát, xã Trần Phán, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

3. Buộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành C 158522 ngày 06/02/1995 tên Trần Văn P cho Bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D, anh Trần Văn V.

4. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D, anh Trần Văn V phải chịu chi phí thẩm định số tiền là 500.000 đồng trong phạm vi tài sản do người chết để lại. Bà D, chị Đ, anh D và anh V có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi để hoàn trả lại cho nguyên đơn.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu bà D, chị Đ, anh D và anh V chậm thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

5. Án phí dân sự sơ thẩm:

5.1. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng 892.000 đồng (tám trăm chín mươi hai ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai số 0011619 ngày 10 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

5.2. Bà Nguyễn Thị D, chị Trần Thị Lin Đ, anh Trần Văn D, anh Trần Văn V phải chịu án phí sơ thẩm số tiền là 1.274.500 đồng (một triệu hai trăm bảy mươi bốn ngàn năm trăm đồng) trong phạm vi tài sản do người chết để lại.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ