vanban.org

Bản án 21/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 14/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn Hưng phạm tội Trộm cắp tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN L
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HSST
Ngày 14/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN L

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Hương

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Văn Minh

Ông Trần Quốc Khánh

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Chu Bích Thủy - Cán bộ Toà án nhân dân quận L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L tham gia phiên tòa: bà Hoàng Minh Ngọc- Kiểm sát viên.

Ngày 14/02/2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận L, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/HSST ngày 04/02/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXXST-HS ngày 06/02/2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn H, sinh năm 1992, tại N; HKTT và nơi ở: Xã X, huyện K, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Văn Linh, sinh năm 1963 và bà: Nguyễn Thị Vinh, sinh năm 1967; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: 02 tiền án.

Nhân thân:

-Năm 2007: Tòa án nhân dân tỉnh N xử phạt 06 năm tù về tội “Giết người”. Ra trại ngày 01/9/2009. Xác minh tại Chi cục thi hành dân sự huyện K, N. H đã chấp hành xong số tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 28/01/2008 (đã được xóa án tích).

Năm 2015: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” trị giá tài sản 7.866.000 đồng và tội “Cưỡng đoạt tài sản” trị giá tài sản 4.700.000 đồng. Ra trại ngày 30/6/2018. Phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm.

Bị cáo bị bắt trong trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 09/10/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại :

1. Chị Nguyễn Thị Kim Thủy, sinh năm 1978

Địa chỉ: số 42 ngách 127 ngõ Quan Thổ 1, phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.

2. Anh Vũ Văn Huy, sinh năm 1990

HKTT: Chính Mỹ, Thủy Nguyên, Hải Phòng.

Địa chỉ: Số 2 ngách 16/26 Đỗ Xuân Hợp, Mỹ Đình 1, L, Hà Nội.

3.Chị Chu Thị Ngân, sinh năm 1989

HKTT: Long Sơn, Đăk Nil, Đăk Nông

Nơi ở: Số 2 ngách 16/26 Đỗ Xuân Hợp, Mỹ Đình 1, L, Hà Nội.

4.Chị Y Thương, sinh năm 2002

Địa chỉ: Làng Yec, Bờ Y, Ngọc Hổi, Kom Tum

Nơi ở: Số 2 ngách 16/26 Đỗ Xuân Hợp, Mỹ Đình 1, L, Hà Nội.

Đều vắng mặt.

Người làm chứng:

Cửa hàng giặt là Thanh Thảo

Địa chỉ: Số 6 ngách 52 Mỹ Đình, phường Mỹ Đình 2, L, Hà Nội.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng đầu tháng 9/2019, Phan Văn H đi từ N ra Hà Nội để tìm việc làm. Qua trung tâm giới thiệu việc làm Ngân Hà (địa chỉ số 2 ngách 16 ngõ 26 Đỗ Xuân Hợp, Mỹ Đình 1, L, Hà Nội), H được giới thiệu đến làm việc tại cửa hàng Mỹ Phẩm Thái Lan (địa chỉ: số 321 Giảng Võ, phường Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội) do chị Nguyễn Thị Kim Thủy làm chủ.

Để phục vụ công việc, chị Thủy giao cho H chiếc xe máy nhãn hiệu SYM Elegant màu xanh đen, biển kiểm soát 29B1 – 785.27 để sử dụng giao hàng cho khách. Ngày 01/10/2019, chị Thủy giao cho H đi đưa hàng và lấy tiền hàng là 9.947.000 đồng. Sau khi giao hàng và nhận tiền của khách, H điều khiển xe máy SYM Elegant đến khu vực bến xe Mỹ Đình để tìm bạn đang làm xe ôm nH không tìm được bạn. Lúc này, do hết tiền tiêu sài nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy và tiền hàng của chị Thủy nên đã điều khiển chiếc xe máy SYM Elegant bỏ trốn, mục đích để chiếm đoạt tài sản. Số tiền hàng chiếm đoạt được, H đã tiêu sài cá nhân hết 9.147.000 đồng, còn lại 800.000 nghìn đồng. Đến khoảng 02 giờ 00 ngày 09/10/2019, do sắp hết tiền tiêu sài nên H điều khiển xe máy SYM Elegant đi lang thang ở khu vực Tân Mỹ, Mỹ Đình 1, L, Hà Nội tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi qua Trung tâm giới thiệu việc làm Ngân Hà tại số nhà 2, ngách 16 ngõ 26 Đỗ Xuân Hợp, Mỹ Đình 1, L, Hà Nội, H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã để xe ở ngoài và trèo qua cổng sắt vào bên trong, H thấy cửa nhà số 02 không khóa nên đi vào trong thì phát hiện anh Huy, chị Ngân và chị Thương đang ngủ. Tại đây, H đã trộm cắp 01 chiếc thoại di động nhãn hiệu Nokia 1010 màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu xám cùng 01 đồng hồ màu vàng nhãn hiệu “Tashi” của anh Vũ Văn Huy, 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng và 01 điện thoại Intel S13 Pro màu vàng đồng của chị Chu Thị Ngân trên đầu giường nơi anh Huy, chị Ngân đang nằm. Sau đó, H đi sang giường của chị Thương trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám. Lúc này H quan sát phát hiện thấy chiếc túi xách màu đen của chị Ngân để ở bàn trang điểm nên đã lấy chiếc túi và trèo cổng ra bên ngoài kiểm tra thấy có 01 dây chuyền, 02 hoa tai và 01 ví bên trong có 5.600.000 đồng cùng giấy tờ tùy thân của chị Chu Thị Ngân. H lấy hết tiền trong ví và vất lại túi xách, sau đó H điều khiển xe máy bỏ đi. Đến 07 giờ 50 phút cùng ngày, H vào nhà nghỉ Cộng Đồng (cạnh bến xe Mỹ Đình) thuê phòng nghỉ và mang quần áo đến cửa hàng giặt là Thanh Thảo (địa chỉ: Số 6 ngách 52 Mỹ Đình, Mỹ Đình 2, L, Hà Nội) để giặt đồ và bỏ quên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1010 trong túi đồ. Khoảng 16 giờ cùng ngày, H đến lấy quần áo thì bị anh Huy và người dân bắt giữ, giao cho Công an phường Mỹ Đình 2 để làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra, Phan Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và giao nộp lại tài sản đã chiếm đoạt.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động Nokia 1010 màu xanh gắn sim số 0968918296; 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus màu xám gắn sim số 0865229363; 01 điện thoại di dộng Iphone 6s màu xám gắn sim số 0356141953; 01 điện thoại di dộng Iphone 7 Plus màu hồng; 01 điện thoại di dộng Itel S13 Pro màu vàng đồng gắn sim số 0906209750; 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 02 hoa tai bằng kim loại màu vàng; 01 túi xách màu đen kích thước (15x10x5cm); 01 xe máy nhãn hiệu Elegant màu xanh đen, biển kiểm soát 29B1 – 78527 và 6.400.000 đồng.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 439 ngày 04/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận L, kết luận: 01 điện thoại di động Nokia 1010 màu xanh trị giá: 150.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus màu xám trị giá: 4.500.000 đồng; 01 điện thoại di dộng Iphone 6s màu xám trị giá: 3.000.000 đồng; 01 điện thoại di dộng Iphone 7 Plus màu hồng trị giá: 7.000.000 đồng; 01 điện thoại di dộng Itel S13 Pro màu vàng đồng trị giá: 700.000 đồng; 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng trị giá 50.000 đồng; 01 túi xách màu đen kích thước (15x10x5cm) có trị giá: 50.000 đồng; 02 hoa tai bằng kim loại màu vàng có trị giá: 1.800.000 đồng; 01 xe máy nhãn hiệu SYM Elegant màu xanh, biển kiểm soát 29B1 – 78527 có trị giá: 5.000.000 đồng; 04 sim điện thoại có trị giá 100.000 đồng;

Đối với chiếc đồng hồ H trộm cắp được của anh Vũ Văn Huy và chiếc ví tiền của chị Ngân, H khai đã làm rơi mất trong quá trình bỏ trốn và không nhớ mất ở đâu. Do Anh Huy và chị Ngân không cung cấp được giấy tờ mua bán nên Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận L không đủ cơ sở để định giá tài sản.

Ngày 18/10/2019 và ngày 20/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho cho chị Y Thương 01 điện thoại di động Iphone 6S màu xám và 01 sim điện thoại số 0356141953; trao trả cho chị Chu Thị Ngân 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Intel S13 Pro màu vàng đồng, 01 sim số điện thoại 0906209750; 01 túi đeo chéo màu đen kích thước (15x10x05cm); 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 02 hoa tai bằng kim loại màu vàng và số tiền 5.600.000 đồng; trao trả cho anh Vũ Văn Huy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu xám gắn sim số 0865229363 và 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1010 gắn sim số 0968918296; trao trả cho chị Nguyễn Thị Kim Thủy số tiền 800.000 đồng.

Chị Thương, chị Ngân, anh Huy đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự. Đối với chiếc đồng hồ nhãn hiệu Tashi màu vàng của anh Huy, anh Huy khai mua với giá 200.000 đồng, do giá trị tài sản bị trộm cắp không lớn nên anh Huy không yêu cầu bồi thường. Chị Nguyễn Thị Kim Thủy yêu cầu H phải bồi thường số tiền còn lại là 9.147.000 đồng.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Elegant màu xanh biển kiểm soát 29B1 - 785.27, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là của anh Phạm Doãn Đoàn (chồng chị Thủy) nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy trên cho anh Đoàn, anh Đoàn đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về mặt dân sự.

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS - NTL ngày 31/01/2020 Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hà Nội đã truy tố Phan Văn H về tội “Trộm cắp tài sản", theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Văn H theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 12 đến 15 tháng tù, về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội Trộm Cắp tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bị cáo Phan Văn H phải chấp hành từ 27 đến 33 tháng tù.

Về dân sự: Chị Chu Thị Ngân, anh Vũ Văn Huy, chị Y Thương đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Chị Nguyễn Thị Kim Thủy yêu cầu bị cáo bồi thường 9.147.000 đồng là có căn cứ.

Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo H phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Kim Thủy 9.147.000 đồng.

Về vật chứng: không

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận đã thực hiện 02 vụ như sau:

Vụ 1: Ngày 01/10/2019, tại khu vực bến xe Mỹ Đình, L, Hà Nội, Phan Văn H có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt 01 xe máy nhãn hiệu Elegant màu xanh biển kiểm soát 29B1 – 78527 trị giá 5.000.000 đồng và số tiền 9.947.000 đồng của chị Nguyễn Thị Kim Thủy. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 14.947.000 đồng. Tài sản chiếm đoạt là xe máy nhãn hiệu Elegant đã được thu hồi và trao trả cho chị Thủy cùng số tiền 800.000 đồng. Chị Thủy yêu cầu H bồi thường số tiền 9.147.000 đồng.

Vụ 2: Khoảng 02 giờ ngày 09/10/2019, tại số nhà 02 ngách 16 ngõ 26 Đỗ Xuân Hợp, Mỹ Đình 1, L, Hà Nội, Phan Văn H có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Nokia 1010 màu xanh trị giá: 150.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus màu xám trị giá: 4.500.000 đồng, 02 sim điện thoại trị giá: 50.000 đồng cùng 01 đồng hồ màu vàng nhãn hiệu Tashi (không xác định được giá trị) của anh Vũ Văn Huy; trộm cắp 01 điện thoại di dộng Iphone 7 Plus màu hồng trị giá: 7.000.000 đồng, 01 điện thoại di dộng Itel S13 Pro màu vàng đồng trị giá: 700.000 đồng, 01 sim điện thoại trị giá 25.000 đồng, 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng trị giá: 50.000 đồng, 01 túi xách màu đen có trị giá: 50.000 đồng; 02 hoa tai bằng kim loại màu vàng có trị giá: 1.800.000 đồng và số tiền 5.600.000 đồng của chị Chu Thị Ngân; trộm cắp 01 điện thoại di dộng Iphone 6s màu xám trị giá: 3.000.000 đồng và 01 sim điện thoại trị giá: 25.000 đồng của chị Y Thương. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 22.950.000 đồng.

Tài sản đã thu hồi và trao trả cho anh Huy, chị Ngân và chị Thương, anh Huy, chị Ngân, chị Nga đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự.

Chị Thủy yêu cầu bị cáo bồi thường 9.147.000 đồng.

Tội phạm và hình phạt của bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án nghiêm trọng, hành vi trộm cắp tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có 02 tiền án về tội giết người và tội trộm cắp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy hành vi vi phạm của bị cáo đã gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần được xử lý nghiêm đối với bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó có cơ sở để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ trừng trị, giáo dục, phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim Thủy yêu cầu bị cáo bồi thường 9.147.000 đồng. HĐXX xét thấy yêu cầu bồi thường của chị Thủy là có căn cứ. Áp dụng Điều 590 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Phan Văn H bồi thường cho chị Nguyễn Thị Kim Thủy số tiền 9.147.000 đồng.

6. Về vật chứng: không

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng: điểm a Khoản 1 Điều 175; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn H 18 (Mười tám) tháng tù.

Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2019.

-Về dân sự: Áp dụng Điều 589 Bộ luật dân sự

Buộc bị cáo Phan Văn H phải bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị Kim Thủy số tiền 9.147.000 đồng.

-Về vật chứng: không

- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 457.350 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ